Dinh thự Van Alen nằm tại góc đường 101 và Riverside từng có thời là một trong những dinh thự bề thế và nguy nga nhất ở New York. Không biết bao nhiêu thế hệ của gia tộc này đã từng phục vụ các đời tổng thống, thống đốc, các vị quan chức cấp cao ngoại quốc, những người đoạt giải Nobel cũng như những nhân vật gạo cội của làng điện ảnh Hollywood, và thi thoảng còn có những nghệ sĩ bohemien, những tiểu thuyết gia nổi bật của tháng. Thế nhưng giờ thì nó chỉ còn là một cái bóng của quá khứ: những gờ tường sứt mẻ, một bên mặt tiền của ngôi nhà nham nhở hình vẽ graffti, mái nhà thậm chí có chỗ bị dột và tường thì đầy những vết nứt nẻ. Rõ ràng là, sau bao nhiêu năm tháng, nhà Van Alen không còn đủ sức duy trì và bảo dưỡng ngôi nhà được như xưa nữa.
Schuyler kéo lê chiếc vali hành lý lên bậc thềm và nhấn chuông cửa. Hattie, người hầu trung thành của bà ngoại cô, ra mở cửa cho cô vào.
Phòng khách tối và phủ vải y như lúc Schuyler rời đi. Trong nhiều năm qua, Schuyler và Cordelia chỉ sống quanh quẩn trong khoảng diện tích một phần tư ngôi nhà, bao gồm căn bếp rộng lớn, phòng ăn và phòng ngủ của hai người. Những căn phòng khác đều bị khóa và chẳng bao giờ được sử dụng. Schuyler hiểu rằng đó là vì gia đình cô lúc này đã rơi vào cảnh cùng cực, cần tiết kiệm chi tiêu. Hầu hết đồ đạc trong nhà được che phủ dưới những tấm vải bạt, cửa sổ thì luôn kéo rèm, và toàn bộ các chái nhà đều không được sử dụng tới.
Có lẽ bởi vậy mà cả ngôi nhà trông có vẻ gì đó giống với một bảo tàng cũ kỹ, ẩm mốc; bên trong chứa đầy những đồ tạo tác cổ kính và những tác phẩm nghệ thuật đắt tiền được giấu kín trong các phòng hoặc được giữ trong những tủ có khóa.
Schuyler đi lên phòng mình, nơi Xinh Đẹp đón chào cô với một tiếng sủa vui mừng vang dội; và chỉ tới lúc đó Schuyler mới có cảm giác cô đã thực sự về nhà.
Bây giờ, vấn đề duy nhất là cô sẽ phải mặc gì trong vũ hội tối nay. Thiệp mời đã ghi rõ “White Tie”, cái mà theo Schuyler hiểu là những chiếc váy dài sang trọng dành cho phụ nữ. Cô lờ mờ nhớ lại Cordelia đã chuẩn bị thế nào cho Vũ hội Four Hundred những năm trước đó, với những chiếc váy dài hiệu Oscar de la Renta và những đôi găng opera dài tới tận khuỷu tay. Có lẽ cô có thể tìm thấy thứ gì đó trong tủ đồ của Cordelia.
Schuyler mau chóng sang phòng ngủ của bà ngoại. Cô đã không vào đây kể từ sau buổi tối kinh hoàng Cordelia bị tấn công. Schuyler sợ phải bước chân vào căn phòng này, sợ phải nhớ lại cảnh cô tìm thấy bà ngoại mình nằm trong vũng máu. Nhưng rồi cô tự an ủi bản thân với ý niệm rằng ít ra Cordelia cũng vẫn còn giữ được linh hồn sau cuộc tấn công và như vậy Schuyler có thể mang chỗ máu còn lại của bà tới trung tâm y tế. Họ sẽ giữ máu của bà ở đó cho tới chu kỳ tiếp theo. Một ngày nào đó, bà ngoại cô sẽ trở lại. Bà không chết. Bà đã không bị “hút” bởi Máu Bạc.
- Cô tìm gì vậy, cô Schuyler? – Hattie hỏi, thò đầu vào trong phòng và thấy Schuyler đang đứng chống nạnh trước tủ đồ của bà ngoại cô bé.
- Tôi cần một chiếc váy, Hattie ạ. Cho buổi dạ vũ tối nay.
- Phu nhân Cordelia có rất nhiều váy.
- Vâng. - Schuyler nhíu mày, lật qua lật lại những cái móc áo và xem xét từng chiếc váy treo trên đó. Chúng đều lỗi mốt cả rồi: những bộ váy với những ống tay bồng choán hết cả cẳng tay. Một số thậm chí có dáng dấp của thời trang thập niên 80, từ thời Tổng thống Reagan còn nắm quyền, với những miếng đệm vai có thể sánh với những miếng đệm vai trên những bộ quần áo hiệu Nolan Miller mà Alexis Carrington từng mặc trong phim Dynasty . – Nhưng tôi không nghĩ mấy bộ váy này còn mặc được.
- Cô Allegra cũng có nhiều váy lắm. – Hattie nói.
- Mẹ tôi á? Váy của mẹ tôi vẫn còn ở đây à?
- Trong phòng của cô ấy, trên tầng ba.
Mẹ Schuyler cũng lớn lên trong ngôi nhà này, và Schuyler đã từng hơn một lần ước rằng mẹ cô có ở đây để giúp cô giải quyết những vấn đề nan giải hiện thời. Hattie dẫn cô lên tầng ba, đi dọc hành lang tới căn phòng nằm ở góc cuối cùng.
Tim Schuyler đập lên từng hồi vừa háo hức lại vừa nôn nao.
- Cô Allegra là nỗi xấu hổ của gia đình này. – Hattie nói khi mở cửa phòng. – Căn phòng vẫn để nguyên như hồi cô ấy mười tám tuổi. Trước khi cô ấy bỏ trốn khỏi nhà để kết hôn với ba cô.
Căn phòng vẫn sạch sẽ như mới. Schuyler bị sốc khi không tìm thấy dấu hiệu của những tấm mạng nhện ở góc phòng, hay một lớp bụi nào vương trên đồ đạc trong phòng. Cô vốn trông đợi mình sẽ bước vào một hầm mộ hay một lăng tẩm nào đó, nhưng thực tế đây lại là một căn phòng sáng sủa, vui tươi với những tấm vải lanh Italia phủ trên giường và những cái rèm cửa sổ trắng phồng to.
- Phu nhân Cordelia luôn yêu cầu tôi dọn dẹp nơi này. Phòng khi mẹ cô tỉnh lại.
Schuyler bước về phía cái tủ đứng ở giữa phòng và mở các cánh cửa tủ. Cô với tay vào bên trong và lôi ra một chiếc áo sơ-mi treo trên móc. Hiệu Valentino, chắc sản xuất vào khoảng năm 1989.
- Bà chắc là mẹ tôi có váy dạ hội chứ?
- Cô ấy có một chiếc váy đầm côticông. Cô ấy mặc nó khi được giới thiệu tại Vũ hội Four Hundred đúng vào dịp sinh nhật lần thứ mười sáu. – Bà Hattie giải thích. – Chanel đã thiết kế chiếc váy đó. Chắc là nó cũng ở trong đó thôi.
Schuyler kiên nhẫn lật từng cái móc áo. Cuối cùng, ở tận góc xa nhất của ngăn tủ, cô tìm thấy một cái túi vải đen có thêu lôgô hai chữ C lồng ngược vào nhau. Schuyler đặt cái túi lên giường ngủ của mẹ mình và từ từ kéo khóa.
- Wow. – Schuyler thở mạnh trong lúc lôi chiếc váy được bảo quản cẩn thận ra khỏi túi. Cô đưa nó lại chỗ sáng. Đó là một chiếc váy màu hoàng kim với phần thân bó sát, hở vai và phần váy bồng kiểu công chúa với tầng tầng lớp lớp vải xòe rộng.
Schuyler ướm chiếc váy vào người. Nó sẽ vừa, cô biết là nó sẽ vừa mà.
Khi Schuyler bước vào Phòng khiêu vũ của St. Regis, cả căn phòng dường như đóng băng. Tất cả khách mời nhìn cô chăm chú khi cô đứng đó, ngay chỗ lối vào, thân hình sáng rực dưới ánh đèn chiếu, vẻ mặt đang phân vân không rõ phải đi về phía nào tiếp theo. Có thể nghe thấy một vài tiếng thở hắt từ trong đám đông. Jack Force là một trong số đó. Cậu không thể rời mắt khỏi Schuyler.
Giống như hầu hết mọi người trong phòng, trong giây lát, Jack đã tin rằng Gabrielle – Allegra Van Alen đã quay trở về với họ.
Thursday, August 5, 2010
Wednesday, August 4, 2010
Vũ hội hóa trang - Chương 12
Cách đó vài tòa nhà, trong khu căn hộ ba tầng của nhà Llewellyn, với cái tên thân mật “Penthouse des Rêves” được đặt dựa theo vẻ lộng lẫy của nó, nếu không muốn nói là lộng lẫy tới độ…kinh hoàng và khoe mẽ, Forsyth Llewellyn đang đứng trước gian phòng bí mật phía sau tủ giày. Ông nhanh nhẹn xoay nắm đấm cửa hai vòng sang phải, thêm ba vòng sang trái, rồi lùi về phía sau khi cánh cửa làm bằng thép không gỉ dày năm inch từ từ mở ra.
- Baaaa, lại chuyện gì nữa đây? – Bliss hỏi trong lúc đứng cạnh ba mình. – Con đã hẹn gặp Jaime tại sảnh khách sạn vào lúc tám giờ.
Trong tay cô là Tiểu thư Ellie, một con chó giống Chihuhua. Đối với Bliss, con chó giống như một người bạn thân thiết, gần gũi. Cái tên Tiểu thư Ellie được Bliss đặt theo tên nhân vật yêu thích của cô, và đương nhiên người đó sống ở Dallas rồi.
Đúng như đã hứa, Mimi đã sắp đặt để Bliss hẹn hò với Jaime Kip trong buổi vũ hội. Đó hoàn toàn là một cuộc hẹn mang tính bạn bè. Jaime không hề có chút hứng thú nào với Bliss và ngược lại. Trên thực tế, chính Jaime đã đề nghị họ hẹn gặp ở sảnh khách sạn St. Regis vì cả hai đều đến tham dự vũ hội cùng gia đình. Bliss có ấn tượng rõ rệt rằng Jaime hẹn hò với cô chỉ vì một lý do duy nhất là để Mimi buông tha cho cậu ta. Nhiều lúc, Mimi có thể trở nên khá áp đặt nếu cô ấy thực sự muốn tỏ ra như vậy. Bliss khoanh tay trước ngực và nhìn quanh phòng thay đồ khổng lồ của bà mẹ kế. Căn phòng này chưa bao giờ thất bại trong việc gây ấn tượng với những vị khách khi họ được mời đi tham quan nhà. “Căn buồng” có diện tích dễ lên tới gần 190m2. Trong phòng có một bồn tắm chìm so với mặt sàn và được lát bằng đá hoa cương travectin quanh bồn, ngoài ra nó còn được trang bị thêm những chiếc vòi hoa sen xung quanh, kiến bạn có cảm giác như đang tắm giữa một đài phun nước. Căn phòng kéo dài tưởng chừng như vô tận được ốp toàn gương là gương, hầu ngụy trang một chuỗi những gian nhỏ chứa cả ngàn bộ quần áo hàng hiệu, tất cả đều được phân loại và sắp xếp bởi trợ lý riêng của BobiAnne. Quá tệ là phần nhiều trong số đó, theo đánh giá của Bliss, đều tầm thường và thiếu thẩm mỹ. BobiAnne chưa bao giờ gặp một chiếc áo pông-sô trang trí lông cò già và in hình hoa báo nào mà bà không thích.
Lúc này, BobiAnne đang bận bịu trong toa-lét (ở đây không phải là toa-lét theo nghĩa nhà vệ sinh thông thường mà là tổ hợp phòng tắm + thay đồ + trang điểm nhưng Bliss đã nhại lại kiểu dùng tiếng Pháp của BobiAnne (toilette) nên Yu để nguyên phiên âm.) riêng của mình, và Bliss có thể nghe thấy tiếng cười inh tai nhức óc vọng lại tới phòng thay đồ khi bà buôn dưa lê bán dưa chuột với hai nhà tạo mẫu của mình.
Bliss nhìn vào hình ảnh mình phản chiếu trong những chiếc gương kéo dài đến vô tận. Cuối cùng cô vẫn quyết định mặc chiếc váy Dior xanh sẫm. Ba cô và cả mẹ kế đơn giản là không thể thốt lên lời nào khi nhìn thấy cô trong chiếc váy mới.
- Ôi con yêu, trông con đẹp quá. – BobiAnne thì thầm, ôm cô con gái riêng của chồng trong hai cánh tay xương xẩu có vẻ như càng lúc càng dài ra do tập quá nhiều bài tập Pilates (tên hệ thống những bài tập thể dục tăng cường sức khỏe) . Bliss có cảm giác như thể cô bị ôm bởi một bộ xương khô vậy. BobiAnne lúc nào cũng ca ngợi vẻ đẹp của Bliss lên tận trời xanh, trong khi lại miệt thị vẻ ngoài giản dị của cô con gái ruột. Jordan mới mười một tuổi, quá nhỏ để được mời tham dự vũ hội; cô bé đã nhòm vào phòng lúc Bliss thay đồ và đưa ra lời nhận xét của riêng mình.
- Trông chị như một ả lẳng lơ ý.
Bliss ném cái gối vào đứa em gái lúc đó đã kịp rút lui. Sau khi cô trình diện ba mẹ chiếc váy, ba cô đã đưa cô đến chỗ cái két sắt. Ông mở mấy cái ngăn kéo bọc da lộn được đặt làm riêng theo đúng chỉ thị của BobiAnne. Bliss có thể nhìn thấy những món đồ trang sức của bà mẹ kế, nào là những chiếc vương miện kim cương sáng lấp lánh, nào là vòng cổ, nhẫn và cả những sợi dây chuyền đeo tay. Cứ như thể đang ở trong tiệm Harry Winston vậy. Thực tế, người ta đồn rằng khi gia đình nhà Llewellyn chuyển từ Texas đến Manhattan, phu nhân ngài thượng nghị sĩ đã dọn sạch những cái hầm của tất cả các nhà buồn kim cương lớn nhất vùng để ăn mừng sự thăng tiến của gia đình họ trong xã hội thượng lưu New York.
Ba của Bliss lôi ra một chiếc hộp nhung đen dài từ ngăn kéo cuối cùng.
- Cái này là của mẹ con. – Ông nói, đoạn chỉ cho cô viên ngọc lục bảo to đùng, cắt thành hình vuông, vát bốn góc, được gắn vào một sợi dây chuyền bạch kim. – Ý ba là mẹ đẻ của con ấy. Không phải BobiAnne đâu.
Bliss không thốt ra được lời nào.
- Tối nay, ba muốn con đeo nó. Đây là thời khắc quan trọng đối với chúng ta, đối với cả gia đình ta. Con sẽ tôn vinh ký ức về mẹ con bằng sợi dây chuyền này. – Ngài thượng nghị sĩ tiếp tục nói trong lúc vòng sợi dây quanh cổ con gái.
Bliss biết rất ít về mẹ đẻ của mình, chỉ biết rằng bà sớm thoát khỏi chu kỳ này vì một lý do nào đó cô không rõ. Ba cô chưa bao giờ đề cập tới chuyện này, và suốt từ thời thơ ấu đến giờ, Bliss hiểu rằng mẹ cô là một đề tài gây nhiều đau đớn cho ông. Ngay cả kỷ vật về bà cũng chẳng có nhiều ngoài một vài tấm ảnh còn sót lại nhưng chúng đều đã mờ và bong tróc hết cả, vì vậy Bliss thậm chí còn không biết hình dáng mẹ mình ra sao.
Mỗi khi Bliss hỏi về mẹ đẻ của mình, ba cô chỉ nói rằng “hãy tập trung vào phần ký ức liên quan” và rằng cô sẽ gặp lại mẹ nếu thời gian cho phép.
Con chó trong cánh tay Bliss bỗng nhiên nổi khùng. Nó sủa lên từng hồi và gầm gừ khi trông thấy viên đá.
- Tiểu thư Ellie! Dừng lại ngay!
- Yên nào! - Thượng nghị sĩ ra lệnh. Con chó ngay lập tức nhảy ra khỏi vòng tay của Bliss và chuồn thẳng ra cửa.
- Ba làm nó sợ rồi đấy.
Bliss nhìn xuống viên ngọc lục bảo, lúc này đang nép bên khe hở trên ngực cô. Nó khá nặng. Cô không rõ mình có thích nó hay không. No to quá. Mẹ cô thực sự đã đeo nó sao?
- Viên đá này được gọi là “Bông hồng của Lucifer”, hay “Sự hủy diệt của Lucifer” – Ngài thượng nghị sĩ giải thích với một nụ cười. – Con đã nghe câu chuyện về nó chưa?
Bliss lắc đầu.
- Chuyện kể rằng khi Lucifer bị đuổi khỏi Thiên Đàng, một viên ngọc đã rơi khỏi vương miện của ông ta. Viên ngọc đó được gọi là “Bông hồng của Lucifer – Ngôi sao Mai của Trái đất ”. Còn trong một số câu chuyện khác, nó lại được gọi là Chén Thánh. (*)
Bliss lặng im ghi nhận thông tin vừa nghe được, vì cô không biết phải nghĩ thế nào về chuyện này. Mẹ của cô sở hữu một viên ngọc liên quan tới bọn Máu Bạc ư?
- Tất nhiên là… - Thượng nghị sĩ vừa lắc đầu vừa nói - …đó chỉ là chuyện kể thôi.
Đúng lúc đó, BobiAnne bước vào phòng. Bà mặc một cái váy hiệu Versace trông thật đáng kinh hãi. Cái váy trông như thể một tấm ván lợp làm từ nhựa vinyl pha kim loại được phun sơn.
- Trông em thế nào? – bà hỏi chồng bằng một giọng ngọt ngào. Bliss và ba cô trao đổi một cái liếc nhanh.
- Đẹp lắm, em yêu. – Ba cô nói với nụ cười đông cứng. – Chúng ta đi thôi nhỉ? Xe đang chờ.
Trước cửa khách sạn, một nhóm đông đảo thợ săn ảnh đang tụ tập, và cả một nhóm càng lúc càng đông những người đi đường tò mò bị giữ lại bởi đội bảo vệ và một đội NYPD (Sở Cảnh sát New York). Mỗi khi có chiếc Town Car (loại xe hơi có thân kiểu cổ, bên trong có vách ngăn giữa khoang trước cho tài xế và khoang sau) màu đen nào đỗ lại trước lối ra vào của khách sạn, những ánh đèn flash lại được dịp lóe sáng tới tấp cùng tiếng người nhốn nháo và tiếng bấm máy tanh tách.
- Ta đến rồi đây. – BobiAnne reo lên hoan hỉ khi bước ra khỏi xe và vịn vào cánh tay chồng.
Nhưng các tay paparazzi chỉ hứng thú với mỗi Bliss.
- Bliss! Bên này! Bliss! Một kiểu cho tôi nào! Bliss, hướng này!
- Váy của cô mang nhãn hiệu nào?
- Ai thiết kế chiếc váy này?
Một vài tay phó nháy và phóng viên còn tỏ ra lịch sự hỏi han vợ chồng Thượng nghị sĩ, đề nghị ông bà phát biểu cảm tưởng về buổi vũ hội, nhưng rõ ràng Bliss vẫn là người thu hút nhiều sự chú ý nhất.
Từ vỉa hè đến cửa ra vào của khách sạn chỉ có mười bước chân, nhưng Bliss mất tới gần nửa giờ đồng hồ mới vào được trong tiền sảnh.
- Náo nhiệt thật. – Bliss thốt lên, trông có vẻ hài lòng khi cuối cùng cũng vào được bên trong tiền sảnh và thấy ngay bạn hẹn của mình đang đứng chờ ở phía bàn lễ tân, trông có vẻ mất kiên nhẫn lắm rồi.
Toàn bộ Phòng Khiêu vũ của St. Regis đã biến thành thế giới thần tiên lung linh trong tiết mùa đông: những chùm đèn pha lê treo trên những sợi dây mềm gắn thạch anh, những bông hồng Vẻ Đẹp Mỹ rạng rỡ nở khắp mọi nơi: chúng được dùng để trang trí những chùm chúc đài trên không trung hoặc được cắm trong những bình lớn cao tới hơn 1m đặt ngay giữa bàn (nặng tới nỗi mà chân bàn phải được gia cố lại) và đương nhiên không thể quên vòng hoa hồng khổng lồ ở mỗi lối vào. Một chiếc thảm trắng như tuyết trải trên nền đá hoa cương dẫn từ phòng lễ tân phía trước vào trong phòng khiêu vũ.
- Thượng nghĩ sĩ Forsyth Llewellyn và phu nhân. - Một tiếng thông báo xướng lên khi nhà chính khách cùng vợ xuất hiện ở đầu cầu thang. Một chùm ánh sáng chiếu vào họ và các nhạc công dạo một hồi trống trang trọng.
- Ngài James Andrews Kip và Cô Bliss Llewellyn.
Cả bốn người cùng chậm tiến ra giữa sảnh khiêu vũ.
Hai dàn nhạc giao hưởng lớn ngồi đối diện nhau ở hai đầu căn phòng, đang chơi một bản van-xơ nhẹ nhàng trong lúc các ma cà rồng Máu Xanh đi qua đi lại trong những bộ xiêm áo lộng lẫy. Cánh đàn ông hào nhoáng và quyến rũ trong những chiếc áo đuôi tôm, còn các bà các cô với dáng vẻ siêu mảnh và kiểu cách không thể hơn được nữa trong những chiếc váy dạ hội. Đúng là một cảnh quan huyền diệu. Ủy Ban thực sự đã nỗ lực hết mình cho buổi tối hôm nay. Toàn bộ phòng khiêu vũ nhuốm một vẻ rực rỡ, sáng chói đến lóa mắt: từ những chùm đèn pha lê cổ sáng lấp lánh đến sàn nhà lát đá bóng lộn.
Jaime đưa Bliss tới bàn của cô, chào tạm biệt và nhanh chóng biến mất trong suốt phần còn lại của buổi tối. Thế cũng là quá đủ rồi. Bliss tìm thấy Mimi đang đứng cạnh ba mẹ cô chỗ hàng người đón tiếp.
- Wow, xem kìa! – Mimi thốt lên, ngay lập tức chuyển cái nhìn chăm chú vào sợi dây chuyền trên cổ Bliss. – Đúng là đỉnh của đỉnh!
- Là của mẹ mình đấy. – Bliss giải thích. Cô kể cho Mimi nghe truyền thuyết về viên ngọc “Sự hủy diệt của Lucifer”.
Mimi nâng viên ngọc trên tay, vuốt ve mặt đá lạnh băng. Khi chạm vào nó, cô bỗng bị đưa ngược thời gian về nơi xảy ra trận chiến cuối cùng, những hình ảnh về cái ngày đen tối đó tràn về trong óc cô cùng với tiếng kèn hiệu văng vẳng từ xa, Michael cùng thanh gươm rực lửa, sự hủy diệt, và rồi lạnh như băng. Cái lạnh băng giá… đánh thức dòng máu bất tử trên cõi trần thế cùng với khao khát uống máu.
- Ồ. - Mắt Mimi đờ đẫn, tay vẫn giữ viên đá. Và rồi cô bỗng thả rơi nó xuống như thể nó đốt cháy da thịt cô. Bliss ngạc nhiên. Cô biết có điều gì đó đang xảy ra với Mimi, hình ảnh quá khứ nhá lên, ký ức tràn về khi Mimi chạm vào viên ngọc. Nhưng tới khi Bliss chạm vào nó thì chẳng có điều gì xảy ra cả. Chỉ là một viên ngọc lục bảo vô tri vô giác. “Sự hủy diệt của Lucifer”. Cái tên khiến cô rùng mình.
- Nó đúng là “Trái tim của Đại dương” (sợi dây chuyền giả tưởng xuất hiện trong phim Titanic (1997), dựa theo hình mẫu sợi dây chuyền Hope Diamond nổi tiếng.) đấy. – Mimi đùa – Hãy hứa với tớ là cậu sẽ không ném nó khỏi boong tàu Titanic đấy nhé.
Bliss cố cười. Viên đá 55 cara vẫn nặng trĩu trên da thịt cô.
Bông hồng của Lucifer. Sự hủy diệt của Lucifer. Hoàng tử Máu Bạc. Tài sản quý giá nhất của ông ta đang ở trên cổ cô như một cái thòng lọng. Bliss rùng mình. Một phần trong cô muốn giựt phăng sợi dây khỏi cổ và ném nó đi càng xa càng tốt.
-----------------------------
(*) Xin giải thích một chút về tên gọi của Quỷ Satan: Lucifer là tên đầu tiên của Quỷ Satan, đây là một từ trong tiếng Latin có nghĩa ý nghĩa rất đẹp, nghĩa là “mang theo ánh sáng”, được nhắc đến lần đầu tiên trong Kinh Isaiah (ghi những lời tiên tri và răn dạy của nhà tiên tri người Do Thái Isaiah) để ám chỉ một thiên thần gãy cánh, rơi khỏi Thiên Đàng, khi rơi xuống trái đất vẫn còn mang theo ánh sáng của nhà Trời, vì vậy gọi là “lucifer” (lúc này lucifer chưa phải danh từ riêng). Sau này khi Kinh Thánh được dịch ra tiếng Anh, các dịch giả dùng từ The Morning Star (Sao Mai) để dùng thay từ lucifer trong tiếng Latin (vì sao Mai/ sao Kim là ngôi sao đầu tiên xuất hiện ở phía Đông lúc mặt trời mọc, mang theo tia sáng đầu tiên trong ngày). Sau Kinh Isaiah, có nhiều truyền thuyết nói về Quỷ dữ và trong một số câu chuyện người ta giả tưởng rằng Quỷ dữ thực chất là một thiên thần gãy cánh bị Chúa đuổi khỏi Thiên Đàng, vì vậy Lucifer dần biến thành danh từ riêng chỉ Quỷ dữ, cùng với tên The Morning Star. Ngoài ra Quỷ Satan còn được Kinh Thánh nhắc tới bằng rất nhiều tên khác nhau, trong đó có rất nhiều tên có từ “Ánh sáng” thay vì từ “bóng tối” như nhiều người vẫn nghĩ, chỉ trừ 2 tên duy nhất là “Kẻ thống trị Bóng tối của thế gian” và “Sức mạnh Bóng tối”. Tên Satan là tên mãi về sau mới được nhắc đến lần đầu trong Kinh Tân Ước. Bộ Kinh này không còn dùng tên Lucifer nữa (có lẽ vì ý nghĩa khá hay của từ này). Tuy nhiên, giờ đây trong dân gian nhiều người vẫn chuộng dùng tên Lucifer.
- Baaaa, lại chuyện gì nữa đây? – Bliss hỏi trong lúc đứng cạnh ba mình. – Con đã hẹn gặp Jaime tại sảnh khách sạn vào lúc tám giờ.
Trong tay cô là Tiểu thư Ellie, một con chó giống Chihuhua. Đối với Bliss, con chó giống như một người bạn thân thiết, gần gũi. Cái tên Tiểu thư Ellie được Bliss đặt theo tên nhân vật yêu thích của cô, và đương nhiên người đó sống ở Dallas rồi.
Đúng như đã hứa, Mimi đã sắp đặt để Bliss hẹn hò với Jaime Kip trong buổi vũ hội. Đó hoàn toàn là một cuộc hẹn mang tính bạn bè. Jaime không hề có chút hứng thú nào với Bliss và ngược lại. Trên thực tế, chính Jaime đã đề nghị họ hẹn gặp ở sảnh khách sạn St. Regis vì cả hai đều đến tham dự vũ hội cùng gia đình. Bliss có ấn tượng rõ rệt rằng Jaime hẹn hò với cô chỉ vì một lý do duy nhất là để Mimi buông tha cho cậu ta. Nhiều lúc, Mimi có thể trở nên khá áp đặt nếu cô ấy thực sự muốn tỏ ra như vậy. Bliss khoanh tay trước ngực và nhìn quanh phòng thay đồ khổng lồ của bà mẹ kế. Căn phòng này chưa bao giờ thất bại trong việc gây ấn tượng với những vị khách khi họ được mời đi tham quan nhà. “Căn buồng” có diện tích dễ lên tới gần 190m2. Trong phòng có một bồn tắm chìm so với mặt sàn và được lát bằng đá hoa cương travectin quanh bồn, ngoài ra nó còn được trang bị thêm những chiếc vòi hoa sen xung quanh, kiến bạn có cảm giác như đang tắm giữa một đài phun nước. Căn phòng kéo dài tưởng chừng như vô tận được ốp toàn gương là gương, hầu ngụy trang một chuỗi những gian nhỏ chứa cả ngàn bộ quần áo hàng hiệu, tất cả đều được phân loại và sắp xếp bởi trợ lý riêng của BobiAnne. Quá tệ là phần nhiều trong số đó, theo đánh giá của Bliss, đều tầm thường và thiếu thẩm mỹ. BobiAnne chưa bao giờ gặp một chiếc áo pông-sô trang trí lông cò già và in hình hoa báo nào mà bà không thích.
Lúc này, BobiAnne đang bận bịu trong toa-lét (ở đây không phải là toa-lét theo nghĩa nhà vệ sinh thông thường mà là tổ hợp phòng tắm + thay đồ + trang điểm nhưng Bliss đã nhại lại kiểu dùng tiếng Pháp của BobiAnne (toilette) nên Yu để nguyên phiên âm.) riêng của mình, và Bliss có thể nghe thấy tiếng cười inh tai nhức óc vọng lại tới phòng thay đồ khi bà buôn dưa lê bán dưa chuột với hai nhà tạo mẫu của mình.
Bliss nhìn vào hình ảnh mình phản chiếu trong những chiếc gương kéo dài đến vô tận. Cuối cùng cô vẫn quyết định mặc chiếc váy Dior xanh sẫm. Ba cô và cả mẹ kế đơn giản là không thể thốt lên lời nào khi nhìn thấy cô trong chiếc váy mới.
- Ôi con yêu, trông con đẹp quá. – BobiAnne thì thầm, ôm cô con gái riêng của chồng trong hai cánh tay xương xẩu có vẻ như càng lúc càng dài ra do tập quá nhiều bài tập Pilates (tên hệ thống những bài tập thể dục tăng cường sức khỏe) . Bliss có cảm giác như thể cô bị ôm bởi một bộ xương khô vậy. BobiAnne lúc nào cũng ca ngợi vẻ đẹp của Bliss lên tận trời xanh, trong khi lại miệt thị vẻ ngoài giản dị của cô con gái ruột. Jordan mới mười một tuổi, quá nhỏ để được mời tham dự vũ hội; cô bé đã nhòm vào phòng lúc Bliss thay đồ và đưa ra lời nhận xét của riêng mình.
- Trông chị như một ả lẳng lơ ý.
Bliss ném cái gối vào đứa em gái lúc đó đã kịp rút lui. Sau khi cô trình diện ba mẹ chiếc váy, ba cô đã đưa cô đến chỗ cái két sắt. Ông mở mấy cái ngăn kéo bọc da lộn được đặt làm riêng theo đúng chỉ thị của BobiAnne. Bliss có thể nhìn thấy những món đồ trang sức của bà mẹ kế, nào là những chiếc vương miện kim cương sáng lấp lánh, nào là vòng cổ, nhẫn và cả những sợi dây chuyền đeo tay. Cứ như thể đang ở trong tiệm Harry Winston vậy. Thực tế, người ta đồn rằng khi gia đình nhà Llewellyn chuyển từ Texas đến Manhattan, phu nhân ngài thượng nghị sĩ đã dọn sạch những cái hầm của tất cả các nhà buồn kim cương lớn nhất vùng để ăn mừng sự thăng tiến của gia đình họ trong xã hội thượng lưu New York.
Ba của Bliss lôi ra một chiếc hộp nhung đen dài từ ngăn kéo cuối cùng.
- Cái này là của mẹ con. – Ông nói, đoạn chỉ cho cô viên ngọc lục bảo to đùng, cắt thành hình vuông, vát bốn góc, được gắn vào một sợi dây chuyền bạch kim. – Ý ba là mẹ đẻ của con ấy. Không phải BobiAnne đâu.
Bliss không thốt ra được lời nào.
- Tối nay, ba muốn con đeo nó. Đây là thời khắc quan trọng đối với chúng ta, đối với cả gia đình ta. Con sẽ tôn vinh ký ức về mẹ con bằng sợi dây chuyền này. – Ngài thượng nghị sĩ tiếp tục nói trong lúc vòng sợi dây quanh cổ con gái.
Bliss biết rất ít về mẹ đẻ của mình, chỉ biết rằng bà sớm thoát khỏi chu kỳ này vì một lý do nào đó cô không rõ. Ba cô chưa bao giờ đề cập tới chuyện này, và suốt từ thời thơ ấu đến giờ, Bliss hiểu rằng mẹ cô là một đề tài gây nhiều đau đớn cho ông. Ngay cả kỷ vật về bà cũng chẳng có nhiều ngoài một vài tấm ảnh còn sót lại nhưng chúng đều đã mờ và bong tróc hết cả, vì vậy Bliss thậm chí còn không biết hình dáng mẹ mình ra sao.
Mỗi khi Bliss hỏi về mẹ đẻ của mình, ba cô chỉ nói rằng “hãy tập trung vào phần ký ức liên quan” và rằng cô sẽ gặp lại mẹ nếu thời gian cho phép.
Con chó trong cánh tay Bliss bỗng nhiên nổi khùng. Nó sủa lên từng hồi và gầm gừ khi trông thấy viên đá.
- Tiểu thư Ellie! Dừng lại ngay!
- Yên nào! - Thượng nghị sĩ ra lệnh. Con chó ngay lập tức nhảy ra khỏi vòng tay của Bliss và chuồn thẳng ra cửa.
- Ba làm nó sợ rồi đấy.
Bliss nhìn xuống viên ngọc lục bảo, lúc này đang nép bên khe hở trên ngực cô. Nó khá nặng. Cô không rõ mình có thích nó hay không. No to quá. Mẹ cô thực sự đã đeo nó sao?
- Viên đá này được gọi là “Bông hồng của Lucifer”, hay “Sự hủy diệt của Lucifer” – Ngài thượng nghị sĩ giải thích với một nụ cười. – Con đã nghe câu chuyện về nó chưa?
Bliss lắc đầu.
- Chuyện kể rằng khi Lucifer bị đuổi khỏi Thiên Đàng, một viên ngọc đã rơi khỏi vương miện của ông ta. Viên ngọc đó được gọi là “Bông hồng của Lucifer – Ngôi sao Mai của Trái đất ”. Còn trong một số câu chuyện khác, nó lại được gọi là Chén Thánh. (*)
Bliss lặng im ghi nhận thông tin vừa nghe được, vì cô không biết phải nghĩ thế nào về chuyện này. Mẹ của cô sở hữu một viên ngọc liên quan tới bọn Máu Bạc ư?
- Tất nhiên là… - Thượng nghị sĩ vừa lắc đầu vừa nói - …đó chỉ là chuyện kể thôi.
Đúng lúc đó, BobiAnne bước vào phòng. Bà mặc một cái váy hiệu Versace trông thật đáng kinh hãi. Cái váy trông như thể một tấm ván lợp làm từ nhựa vinyl pha kim loại được phun sơn.
- Trông em thế nào? – bà hỏi chồng bằng một giọng ngọt ngào. Bliss và ba cô trao đổi một cái liếc nhanh.
- Đẹp lắm, em yêu. – Ba cô nói với nụ cười đông cứng. – Chúng ta đi thôi nhỉ? Xe đang chờ.
Trước cửa khách sạn, một nhóm đông đảo thợ săn ảnh đang tụ tập, và cả một nhóm càng lúc càng đông những người đi đường tò mò bị giữ lại bởi đội bảo vệ và một đội NYPD (Sở Cảnh sát New York). Mỗi khi có chiếc Town Car (loại xe hơi có thân kiểu cổ, bên trong có vách ngăn giữa khoang trước cho tài xế và khoang sau) màu đen nào đỗ lại trước lối ra vào của khách sạn, những ánh đèn flash lại được dịp lóe sáng tới tấp cùng tiếng người nhốn nháo và tiếng bấm máy tanh tách.
- Ta đến rồi đây. – BobiAnne reo lên hoan hỉ khi bước ra khỏi xe và vịn vào cánh tay chồng.
Nhưng các tay paparazzi chỉ hứng thú với mỗi Bliss.
- Bliss! Bên này! Bliss! Một kiểu cho tôi nào! Bliss, hướng này!
- Váy của cô mang nhãn hiệu nào?
- Ai thiết kế chiếc váy này?
Một vài tay phó nháy và phóng viên còn tỏ ra lịch sự hỏi han vợ chồng Thượng nghị sĩ, đề nghị ông bà phát biểu cảm tưởng về buổi vũ hội, nhưng rõ ràng Bliss vẫn là người thu hút nhiều sự chú ý nhất.
Từ vỉa hè đến cửa ra vào của khách sạn chỉ có mười bước chân, nhưng Bliss mất tới gần nửa giờ đồng hồ mới vào được trong tiền sảnh.
- Náo nhiệt thật. – Bliss thốt lên, trông có vẻ hài lòng khi cuối cùng cũng vào được bên trong tiền sảnh và thấy ngay bạn hẹn của mình đang đứng chờ ở phía bàn lễ tân, trông có vẻ mất kiên nhẫn lắm rồi.
Toàn bộ Phòng Khiêu vũ của St. Regis đã biến thành thế giới thần tiên lung linh trong tiết mùa đông: những chùm đèn pha lê treo trên những sợi dây mềm gắn thạch anh, những bông hồng Vẻ Đẹp Mỹ rạng rỡ nở khắp mọi nơi: chúng được dùng để trang trí những chùm chúc đài trên không trung hoặc được cắm trong những bình lớn cao tới hơn 1m đặt ngay giữa bàn (nặng tới nỗi mà chân bàn phải được gia cố lại) và đương nhiên không thể quên vòng hoa hồng khổng lồ ở mỗi lối vào. Một chiếc thảm trắng như tuyết trải trên nền đá hoa cương dẫn từ phòng lễ tân phía trước vào trong phòng khiêu vũ.
- Thượng nghĩ sĩ Forsyth Llewellyn và phu nhân. - Một tiếng thông báo xướng lên khi nhà chính khách cùng vợ xuất hiện ở đầu cầu thang. Một chùm ánh sáng chiếu vào họ và các nhạc công dạo một hồi trống trang trọng.
- Ngài James Andrews Kip và Cô Bliss Llewellyn.
Cả bốn người cùng chậm tiến ra giữa sảnh khiêu vũ.
Hai dàn nhạc giao hưởng lớn ngồi đối diện nhau ở hai đầu căn phòng, đang chơi một bản van-xơ nhẹ nhàng trong lúc các ma cà rồng Máu Xanh đi qua đi lại trong những bộ xiêm áo lộng lẫy. Cánh đàn ông hào nhoáng và quyến rũ trong những chiếc áo đuôi tôm, còn các bà các cô với dáng vẻ siêu mảnh và kiểu cách không thể hơn được nữa trong những chiếc váy dạ hội. Đúng là một cảnh quan huyền diệu. Ủy Ban thực sự đã nỗ lực hết mình cho buổi tối hôm nay. Toàn bộ phòng khiêu vũ nhuốm một vẻ rực rỡ, sáng chói đến lóa mắt: từ những chùm đèn pha lê cổ sáng lấp lánh đến sàn nhà lát đá bóng lộn.
Jaime đưa Bliss tới bàn của cô, chào tạm biệt và nhanh chóng biến mất trong suốt phần còn lại của buổi tối. Thế cũng là quá đủ rồi. Bliss tìm thấy Mimi đang đứng cạnh ba mẹ cô chỗ hàng người đón tiếp.
- Wow, xem kìa! – Mimi thốt lên, ngay lập tức chuyển cái nhìn chăm chú vào sợi dây chuyền trên cổ Bliss. – Đúng là đỉnh của đỉnh!
- Là của mẹ mình đấy. – Bliss giải thích. Cô kể cho Mimi nghe truyền thuyết về viên ngọc “Sự hủy diệt của Lucifer”.
Mimi nâng viên ngọc trên tay, vuốt ve mặt đá lạnh băng. Khi chạm vào nó, cô bỗng bị đưa ngược thời gian về nơi xảy ra trận chiến cuối cùng, những hình ảnh về cái ngày đen tối đó tràn về trong óc cô cùng với tiếng kèn hiệu văng vẳng từ xa, Michael cùng thanh gươm rực lửa, sự hủy diệt, và rồi lạnh như băng. Cái lạnh băng giá… đánh thức dòng máu bất tử trên cõi trần thế cùng với khao khát uống máu.
- Ồ. - Mắt Mimi đờ đẫn, tay vẫn giữ viên đá. Và rồi cô bỗng thả rơi nó xuống như thể nó đốt cháy da thịt cô. Bliss ngạc nhiên. Cô biết có điều gì đó đang xảy ra với Mimi, hình ảnh quá khứ nhá lên, ký ức tràn về khi Mimi chạm vào viên ngọc. Nhưng tới khi Bliss chạm vào nó thì chẳng có điều gì xảy ra cả. Chỉ là một viên ngọc lục bảo vô tri vô giác. “Sự hủy diệt của Lucifer”. Cái tên khiến cô rùng mình.
- Nó đúng là “Trái tim của Đại dương” (sợi dây chuyền giả tưởng xuất hiện trong phim Titanic (1997), dựa theo hình mẫu sợi dây chuyền Hope Diamond nổi tiếng.) đấy. – Mimi đùa – Hãy hứa với tớ là cậu sẽ không ném nó khỏi boong tàu Titanic đấy nhé.
Bliss cố cười. Viên đá 55 cara vẫn nặng trĩu trên da thịt cô.
Bông hồng của Lucifer. Sự hủy diệt của Lucifer. Hoàng tử Máu Bạc. Tài sản quý giá nhất của ông ta đang ở trên cổ cô như một cái thòng lọng. Bliss rùng mình. Một phần trong cô muốn giựt phăng sợi dây khỏi cổ và ném nó đi càng xa càng tốt.
-----------------------------
(*) Xin giải thích một chút về tên gọi của Quỷ Satan: Lucifer là tên đầu tiên của Quỷ Satan, đây là một từ trong tiếng Latin có nghĩa ý nghĩa rất đẹp, nghĩa là “mang theo ánh sáng”, được nhắc đến lần đầu tiên trong Kinh Isaiah (ghi những lời tiên tri và răn dạy của nhà tiên tri người Do Thái Isaiah) để ám chỉ một thiên thần gãy cánh, rơi khỏi Thiên Đàng, khi rơi xuống trái đất vẫn còn mang theo ánh sáng của nhà Trời, vì vậy gọi là “lucifer” (lúc này lucifer chưa phải danh từ riêng). Sau này khi Kinh Thánh được dịch ra tiếng Anh, các dịch giả dùng từ The Morning Star (Sao Mai) để dùng thay từ lucifer trong tiếng Latin (vì sao Mai/ sao Kim là ngôi sao đầu tiên xuất hiện ở phía Đông lúc mặt trời mọc, mang theo tia sáng đầu tiên trong ngày). Sau Kinh Isaiah, có nhiều truyền thuyết nói về Quỷ dữ và trong một số câu chuyện người ta giả tưởng rằng Quỷ dữ thực chất là một thiên thần gãy cánh bị Chúa đuổi khỏi Thiên Đàng, vì vậy Lucifer dần biến thành danh từ riêng chỉ Quỷ dữ, cùng với tên The Morning Star. Ngoài ra Quỷ Satan còn được Kinh Thánh nhắc tới bằng rất nhiều tên khác nhau, trong đó có rất nhiều tên có từ “Ánh sáng” thay vì từ “bóng tối” như nhiều người vẫn nghĩ, chỉ trừ 2 tên duy nhất là “Kẻ thống trị Bóng tối của thế gian” và “Sức mạnh Bóng tối”. Tên Satan là tên mãi về sau mới được nhắc đến lần đầu trong Kinh Tân Ước. Bộ Kinh này không còn dùng tên Lucifer nữa (có lẽ vì ý nghĩa khá hay của từ này). Tuy nhiên, giờ đây trong dân gian nhiều người vẫn chuộng dùng tên Lucifer.
Tuesday, August 3, 2010
Vũ hội hóa trang - Chương 11
Gia đình nhà Force đã thuê toàn bộ dãy phòng Tổng Thống với bốn phòng ngủ riêng biệt tại khách sạn St. Regis. Hầu hết tất cả các dãy phòng trong khách sạn này hiện đều được các gia đình Máu Xanh bao trọn gói trong đêm nay. Từ lâu vệc này gần như đã trở thành thông lệ, vì nó có nghĩa là chỉ cần di chuyển nhẹ nhàng tới thang máy, ấn nút, vậy là có thể tới được sảnh khiêu vũ mà không mất nhiều thời gian, hơn nữa còn đảm bảo giữ cho váy áo của các quý bà, quý cô tránh bị nhàu hay dính bụi.
Charles Force đang thắt nút ống tay áo còn lại. Đó là một người đàn ông cao ráo với khuôn mặt điển trai, đầy vẻ kiêu hãnh và mái tóc màu bạc. Ông mặc áo đuôi tôm màu trắng, thắt cà-vạt trắng và đi găng tay cũng màu trắng. Chiếc áo đuôi tôm của ông được may đo cẩn thận theo kiểu truyền thống, với hai hàng khuy trên áo và một đường viền nhung ở hai bên ống quần. Charles đang đứng trong phòng khách, hai tay chắp ra phía sau, chờ vợ và con gái thay y phục. Con trai ông, Jack, cũng ăn vận tương tự và trông thật bảnh bao trong chiếc áo đuôi tôm đặt may riêng cho cậu; bên trong, Jack mặc một chiếc áo sơ mi cổ bẻ thay vì loại cổ đứng truyền thống.
Suốt ngày hôm nay Jack có vẻ im lìm. Rồi bỗng nhiên cậu đu chân khỏi chiếc ghế bành và đứng dậy, nhìn thẳng vào mắt ba mình.
- Ba đã nói gì với Schuyler trước khi cô ấy đi Venice?
- Vẫn còn quan tâm tới đứa con gái nhà Van Alen à? – Charles hỏi. – Ta cứ nghĩ sau khi cô ta buộc tội nhầm cho ta là một Máu Bạc, con sẽ không còn hứng thú với cô ta nữa chứ.
Jack nhún vai.
- Con không quan tâm, thưa ba. Chỉ là tò mò thôi. – Jack đáp. Sau vụ lộn xộn xung quanh việc Dylan mất tích và Cordelia qua đời, Charles đã tin tưởng và nói cho Jack biết sự thật về thân thế của Schuyler. Tối hôm đó, Jack cũng khám phá ra sự thật về mối quan hệ giữa cậu và em gái. Mimi chính là nửa kia của Jack, và dù tốt hay xấu, cô cũng là đồng minh thân cận nhất của cậu, nhưng đồng thời lại cũng là kẻ thù nguy hiểm nhất. Hai người là một cặp sinh đôi theo nhiều nghĩa chứ không phải chỉ một như thông thường.
Nhưng cho dù Jack chấp nhận tất cả những điều đó thì vẫn còn một câu hỏi tồn tại trong đầu cậu. Tại sao Ủy Ban phải giấu giếm? Có thật là Máu Bạc đã quay trở lại không? Ba cậu cư xử như thể toàn bộ chuyện này đã được giải quyết ổn thỏa, chỉ vì vài tháng trước, các cuộc giết chóc đột nhiên ngừng lại.
Charles thở dài.
- Ta chỉ nói với cô ta rằng chuyến đi của cô ta tới Venice là vô ích. Cô ta đã được tiêm vào đầu cái ý tưởng rằng ông ngoại của cô ta, bằng cách nào đó, có thể giải đáp tất cả các câu hỏi ngu ngốc của cô ta. Nhưng ông ta sẽ không như vậy. Ta biết Lawrence quá rõ; ông ta sẽ đứng ngoài cuộc như ông ta vẫn thường làm. Và như vậy chuyến đi của cô ta chẳng phải là công cốc sao?!
Jack cũng đoán được phần nào sự việc. Cậu biết ba cậu không thích Lawrence Van Alen, và qua những ký ức mới tìm lại được, Jack càng khẳng định chắc chắn điều này.
- Còn câu hỏi nào nữa không? – Charles hỏi.
Jack nhìn xuống đôi giày da sơn được đánh bóng cho dịp đặc biệt. Cậu có thể nhìn thấy hình ảnh trầm ngâm của chính mình phản chiếu trên bề mặt da sáng loáng.
- Không, thưa ba. - Jack lắc đầu. Làm sao cậu có thể nghi ngờ ba mình chứ? Charles Force chính là Michael Trái Tim Thuần Khiết, là Thủ lĩnh của gia tộc. Ông là một ma cà rồng do lựa chọn chứ không phải do tội lỗi đày ải.
- Tốt. – Charles nói, phủi phủi những xơ vải trên chiếc áo đuôi tôm màu đen của Jack và chỉnh lại dáng đứng của cậu con trai cho thẳng lưng. – Đây là Vũ hội Four Hundred, nơi con sẽ được giới thiệu chính thức trước toàn cộng đồng của chúng ta. Ta tự hào về con.
Trinity, em yêu? Em đã xong chưa? – Charles gọi với vào phòng thay đồ.
Jack nhìn thấy mẹ mình, Trinity Burden Force, đi ra từ phòng thay đồ và mỉm cười âu yếm với chồng. Bà mặc một chiếc váy dạ hội dài may bằng lụa sác-mơ màu đỏ thẫm với chiếc cổ tim và phần lưng để lộ. Ba mẹ cậu là cặp đôi mở màn vũ hội đêm nay. Nhưng Charles đã nói cho Jack biết rằng trước đây, vinh dự này vốn không thuộc về Trinity. Trên thực tế, bà có được nó mới chỉ trong mười sáu năm nay, vì Allegra Van Alen không thể đứng cạnh anh trai mình ở vị trí đó. Đó cũng là mười sáu năm gia tộc Máu Xanh thiếu vắng sự dẫn dắt của Gabrielle Thanh Khiết.
Cùng lúc đó, trong phòng bên cạnh, Mimi Force đang ngồi trên chiếc ghế mạ vàng, trên người khoác một chiếc áo choàng tắm may bằng lông Thổ Nhĩ Kỳ, trong khi một toán các nhà tạo mẫu và thợ làm móng vây quanh cô, chăm sóc từng xen-ti-mét cơ thể cô. Tóc cô được chải ngược ra sau thành một búi yêu kiều, bên cạnh đó là một trợ lý tay đang cầm chiếc máy sấy loại có công suất cực mạnh. Phía trước mặt là hai trong số những chuyên viên trang điểm nổi tiếng nhất New York đang làm nốt phần việc cuối cùng của mình: một người thoa son môi, còn người kia thoa phấn nền quanh mặt Mimi.
Mimi vẫn ngồi trên ghế, tay cầm di động trong lúc ghé miệng thổi lên những chiếc móng tay sơn màu “Socialite” ngọc trai.
- Ôi Trời ơi, ở đây đang tán loạn hết cả lên, xin lỗi nhé, tớ không nghe rõ. Cậu nói mấy giờ thì nhà cậu mới tới được đây cơ? Nhà tớ ở luôn tại khách sạn. Ừ, trên dãy phòng tầng thượng. Xin lỗi, cậu chờ máy mấy giây nhé? Này anh, hey, anh đó. – Mimi cất giọng sắc lẻm hướng về phía anh chàng tạo mẫu với chòm râu dê đang cầm máy sấy. – Suýt chút nữa anh làm tai tôi cháy xém rồi đấy. – Cô nói đồng thời ném về phía anh ta cái nhìn hằn học. – Xin lỗi, Bliss, tớ phải đi đây. – Mimi gập di động lại, mọi hoạt động xung quanh cô đột nhiên ngừng hẳn.
- Xong chưa đây? – Cô hỏi.
- Đây, cô xem. – Một nhà tạo mẫu đưa cho cô tấm gương.
- Polaroids! – Mimi ra lệnh.
Một trong những trợ lý mặc áo sơ mi đen nhanh chóng bấm máy. Mimi kiểm tra hình ảnh của mình trong gương cũng như trên ảnh. Cô săm soi bản thân từng li một, cố tìm kiếm dấu vết của một lỗi nhỏ nào đó mà không thèm quan tâm việc đó tốn bao nhiêu thời gian. Tóc của cô được chải và tạo kiểu lộng lẫy, ôm lấy khuôn mặt như thể một chiếc mũ miện bằng vàng. Da cô sáng ngời, duy chỉ có viền phấn sậm màu quanh mí mắt càng làm nổi bật con ngươi màu xanh ngọc lục bảo trong đôi mắt cô, còn môi cô nhuộm một màu hồng tươi mát.
- Được rồi, tôi nghĩ như vậy là ổn rồi đấy. – Mimi cất giọng vương giả, đoạn đuổi những người xung quanh ra ngoài chỉ bằng một cái vẫy tay mà không hề có chút dấu hiệu nào tỏ lòng cảm ơn. Mimi vốn coi đó như là ân huệ của họ khi được coi sóc cô, chứ không phải ngược lại.
Ngay sau đó, cô hầu phòng bước vào, mang theo một hộp các-tông màu trắng kích cỡ gần bằng chiếc quan tài của một đứa trẻ con. (Không còn gì để so sánh sao?! >.<) Nó vừa được chuyển tới khách sạn vào phút cuối cùng. Mimi vỗ tay khi vừa nhìn thấy nó.
- Nó đây ạ! – Cô hầu phòng sung sướng nói. Thật vô phúc cho cô gái, mới mấy phút trước thôi, cô vừa phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Mimi chỉ vì vũ hội sẽ bắt đầu trong vài giờ nữa mà váy của cô nàng vẫn chưa được mang đến.
- Tôi thấy rồi. Tôi có phải con ngốc đâu. – Mimi nạt nộ.
Cô chạy lại phía chiếc hộp, đặt nó lên tấm vải phủ giường, rồi xé lớp giấy gói hàng màu nâu mau lẹ như một cơn lốc xoáy. Sau khi rời khỏi showroom của Dior, Mimi đã phàn nàn với mẹ cô về chuyện chưa tìm được chiếc váy dạ hội phù hợp. Ngay lập tức, Trinity đã trấn an cô bằng một cuộc hẹn trực tiếp tại xưởng thiết kế của Balenciaga với nhà thiết kế trưởng của hãng này.
Sau cuộc hội bàn kéo dài năm giờ đồng hồ, Mimi đã từ chối và loại bỏ không biết bao nhiêu mẫu váy, khiến nhà thiết kế phải xé mất mấy chục trang phác họa.
- Chính xác thì cô muốn thứ gì? – Ông ta hỏi, cơn tức giận đã lên tới đỉnh điểm – Cô còn khó tính hơn cả một cô dâu.
- Chính vậy. – Mimi thở hắt ra. Cô nhắm mắt lại và nhìn thấy hình ảnh của chính mình đang đi bên cạnh Jack trước lễ “giới hạn máu” đầu tiên của họ. Lúc đó, Mimi mặc một chiếc váy màu trắng giản đơn, trông gần như chỉ là một tấm vải bình thường, hay giống như một tấm áo choàng. Jack và cô, tay trong tay, đang đi chân trần dọc các con phố của Venice để đến nơi cử hành lễ.
- Màu trắng, chiếc váy phải màu trắng. – Mimi thì thầm. - Trắng như tuyết. Trong suốt như những giọt nước mắt.
Giờ thì nó đã ở đây, náu mình trong những lớp giấy lụa bọc ngoài. Chiếc váy trong mơ của cô.
Nó được làm từ loại lụa sa-tanh trắng mỏng nhất, và khi Mimi cầm chiếc váy lên, cô có cảm giác nó như một lời thì thầm mơn trớn giữa các ngón tay cô. Thật mỏng manh làm sao. Đúng như yêu cầu của Mimi, chiếc váy cực kỳ đơn giản. Chiếc móc áo lúc này trông như chẳng có gì ngoài một mảnh vải trắng đơn thuần treo trên đó. Hai bên hông váy đính sợi dây bạc khá nặng; ngoài ra còn có một cái lỗ khóa khá tạo bạo nhưng rất khêu gợi ngay chỗ phần xương chậu. Đó là sự nhượng bộ duy nhất đối với phong cách hiện đại mà Mimi đã cho phép nhà thiết kế thêm vào. Mimi lắc mình khỏi chiếc áo choàng tắm, để nó trôi tuột xuống sàn nhà. Cô đứng giữa phòng, hoàn toàn khỏa thân khi cô hầu phòng giữ cái váy ở trên cao. Mimi xỏ tay chân vào trong váy, cảm thấy sự nhẹ nhàng, thanh thoát của chiếc váy - những thớ vải mỏng như tơ dập dờn trên da cô như thể làn sương mờ giăng trên thân hình mảnh mai của cô.
- Lui đi. – Cô cất tiếng cộc lốc với người hầu phòng. Cô gái kia vẫn còn run lẩy bẩy vì sợ hãi, suýt chút nữa vấp phải chiếc áo choàng tắm khi vội vã lui ra cửa. Mimi buộc sợi dây bạc xung quanh eo, đoạn săm soi làn da rám nắng lộ ra qua chỗ lỗ khóa để hở. Khi đứng trước ánh sáng, cả thân hình cô sẽ tạo thành một bóng hình tối sẫm hoàn toàn, làm nổi bật mọi đường cong của cơ thể cô, từ cổ xuống ngực, từ eo xuống hông rồi xuống đôi chân thon dài. Trông cô rõ ràng mặc váy mà lại như không mặc. Kín đáo mà lại hở hang.
Mimi quyết định không mặc đồ lót.
Sẽ không một ai có thể nhìn cô mà không thốt lên tiếng kêu trầm trồ kinh ngạc.
- Wow.
Cô mỉm cười. Cũng không cần đợi quá lâu phải không?!
Cô quay lại phía tiếng kêu vừa thốt ra và đối diện với anh trai mình.
Jack đang đứng trước ngưỡng cửa phòng cô, một tay vẫn còn đặt trên quả đấm cửa. Charles cử cậu tới đón em gái. Mái tóc ánh kim đẹp đẽ của cậu chải ngược ra sau, trên khuôn mặt cậu lộ rõ cái nhìn dịu dàng.
“Trông em…” - Cậu truyền tín hiệu tới cô.
“Em biết…”
Họ lại quay trở lại thói quen cũ: nói chuyện mà không cần mở miệng. Jack để em gái xâm nhập vào từng suy nghĩ, ký ức của cậu.
Ánh mắt Jack đờ đẫn. Mimi có thể nhìn thấy cái mà cậu đang nhìn trong đôi mắt kia, và cô biết Jack cũng đang nhớ lại đêm đầu tiên đó. Cô có thể nhìn thấy bầu trời Venice không một gợn mây, và bước chân họ nhẹ nhàng, mau lẹ trên cầu. Cô có thể nhìn thấy chính mình qua ánh mắt cậu. Trẻ hơn lúc này hàng thế kỷ. Trông họ mới non trẻ làm sao trước bình minh của thế giới, trước khi các cuộc chiến tranh bắt đầu và trước khi đêm tối tràn đến bao phủ lấy họ.
“Sao em tìm được… có phải vẫn chiếc váy đó không?”
“Không, đáng tiếc là chiếc váy cũ đã trôi theo dòng sông Tiber mất rồi… Lụa không bền lâu đến thế được. Đã một nghìn năm rồi mà, anh yêu. Đây là chiếc váy mới, cho hôn lễ mới.
“Nhưng không phải lúc này.” – Jack bật lại ngay.
Hình ảnh cả hai đang cùng chia sẽ bỗng biến mất. Mimi bực mình vì bị kéo ra khỏi ký ức dễ chịu.
- Chưa, chưa phải lúc này. – Mimi đồng ý.
Jack và Mimi sẽ không giới hạn máu với nhau chính thức cho tới sinh nhật lần thứ hai mốt của cả hai. Theo luật lệ của ma cà rồng, lễ giới hạn máu - một kiểu hôn lễ thần thánh giữa ma cà rồng với nhau - về bản chất chính là một lời tuyên thệ vĩnh cửu. Tuy nhiên nó sẽ không được tiến hành cho tới khi họ đủ tuổi. Cứ mỗi lần xuất hiện trong chu kỳ mới, họ lại phải làm lại lễ giới hạn; mặc dù đây là lần đầu tiên họ được sinh ra với tư cách là một cặp sinh đôi trong cùng một gia đình, khiến cho tình hình rối hơn đôi chút vì những điều luật rắc rối của loài người. Nhưng chẳng hề gì. Bản thân họ vốn là một cặp ma cà rồng sinh đôi, tuy rằng đối với ma cà rồng, điều này mang một ý nghĩa khác so với loài người. Nó có nghĩa là tâm hồn họ đã được gắn chặt với nhau từ khi còn ở Thiên Đàng, nơi họ đã tuyên thệ tình yêu của mình.
Lễ giới hạn không thể thực hiện cho tới khi cả hai lấy lại được toàn bộ ký ức và hoàn toàn làm chủ được sức mạnh của mình. Các cặp sinh đôi ma cà rồng mất nhiều chu kỳ để tìm kiếm nhau, và các cặp được giới hạn với nhau phải đến tuổi mới có thể nhận ra hình dạng mới của người kia, vì cứ sau một chu kỳ, Máu Xanh lại thay đổi vỏ bề ngoài mới. Theo những gì Mimi biết, xuyên suốt chiều dài lịch sử của gia tộc ma cà rồng, chỉ có một cặp đôi duy nhất đã phá vỡ lời thề của mình. Gabrielle với thân phận là Allegra Van Alen đã chối bỏ Michael với thân phận là Charles Van Alen Force trong chu kỳ này. Allegra đã làm đám cưới – LÀM ĐÁM CƯỚI - trong nhà thờ, một thánh đường linh thiêng, và đã cam kết thề nguyền với một người trần mắt thịt! Chính xác là với thần linh quen thuộc loài người của bà ấy! Và xem chuyện gì đã xảy ra… Gabrielle đã mắc kẹt trong hôn mê, mãi mãi chịu cảnh dở sống dở chết. Hay đúng hơn là vĩnh viễn bị giam hãm trong sự câm lặng.
- Nhưng sao phải đợi chứ? – Mimi hỏi. – Em đã nhận ra anh là ai kể từ khi em bắt đầu lấy lại ký ức. Còn anh giờ cũng đã nhận ra em là ai rồi.
Mimi ám chỉ tới buổi tối trong thư phòng của Charles Force khi mà cuối cùng Jack cũng lấy lại được một phần ký ức của mình, cho phép cậu nhìn ra chân tướng người luôn kề vai sát cánh bên cậu. Họ là hai mà như một. Cô thuộc về cậu. Mãi mãi.
- Anh biết là em yêu anh mà. – Mimi nói – Anh khiến em phát điên lên được, nhưng Chúa cứu vớt linh hồn em, Jack, em thực sự yêu anh.
Jack cúi đầu, để sống mũi chôn vùi trong mái tóc của Mimi. Có mùi của cây kim ngân và hoa nhài. Jack hít một hơi thật sâu.
- Anh cũng yêu em. - Cậu đáp lại.
- Ôi lạy Chúa tôi. – Trinity thốt lên kinh ngạc.
Mimi và Jack từ từ tách nhau ra khỏi cái ôm và quay lại nhìn mẹ họ lúc này đang đứng ở ngưỡng cửa ra vào.
- Mimi, con mới chỉ mười sáu tuổi. Và chắc chắn đó không phải là chiếc váy mà một cô gái mười sáu tuổi nên mặc đâu. – Trinity lên án, giọng bà run rẩy.
- Liệu con có nên nhắc cho mẹ nhớ con còn nhiều tuổi hơn mẹ hàng thế kỷ không, thưa Mẹ? – Mimi khụt khịt tỏ vẻ chế giễu. Cô đang bước sang tuổi trưởng thành, những ký ức đang tràn về ngày một rõ nét hơn. Và nó khiến Mimi bắt đầu thấy chán ngán cái trò chơi gia-đình-hạt-nhân-kiểu-Máu-Đỏ này đến tận cổ rồi.
- Charles. – Trinity nói. - Kiểm soát các con anh đi.
- Mimi, trông con tuyệt quá. – Charles nói, hôn lên trán cô con gái. – Đi thôi nào.
Trinity gầm gừ.
- Lại đây nào, em yêu, đến giờ vũ hội rồi. – Charles cất giọng dịu dàng, đoạn nắm lấy tay vợ và dẫn bà ra khỏi phòng.
- Chúng ta cũng đi chứ? – Jack hỏi, chìa tay cậu ra.
- Vâng, đi thôi. – Mimi mỉm cười.
Cặp sinh đôi nhà Force sánh vai nhau bước ra khỏi phòng, tay khoác tay, tiến tới buổi vũ hội lớn nhất của năm.
Charles Force đang thắt nút ống tay áo còn lại. Đó là một người đàn ông cao ráo với khuôn mặt điển trai, đầy vẻ kiêu hãnh và mái tóc màu bạc. Ông mặc áo đuôi tôm màu trắng, thắt cà-vạt trắng và đi găng tay cũng màu trắng. Chiếc áo đuôi tôm của ông được may đo cẩn thận theo kiểu truyền thống, với hai hàng khuy trên áo và một đường viền nhung ở hai bên ống quần. Charles đang đứng trong phòng khách, hai tay chắp ra phía sau, chờ vợ và con gái thay y phục. Con trai ông, Jack, cũng ăn vận tương tự và trông thật bảnh bao trong chiếc áo đuôi tôm đặt may riêng cho cậu; bên trong, Jack mặc một chiếc áo sơ mi cổ bẻ thay vì loại cổ đứng truyền thống.
Suốt ngày hôm nay Jack có vẻ im lìm. Rồi bỗng nhiên cậu đu chân khỏi chiếc ghế bành và đứng dậy, nhìn thẳng vào mắt ba mình.
- Ba đã nói gì với Schuyler trước khi cô ấy đi Venice?
- Vẫn còn quan tâm tới đứa con gái nhà Van Alen à? – Charles hỏi. – Ta cứ nghĩ sau khi cô ta buộc tội nhầm cho ta là một Máu Bạc, con sẽ không còn hứng thú với cô ta nữa chứ.
Jack nhún vai.
- Con không quan tâm, thưa ba. Chỉ là tò mò thôi. – Jack đáp. Sau vụ lộn xộn xung quanh việc Dylan mất tích và Cordelia qua đời, Charles đã tin tưởng và nói cho Jack biết sự thật về thân thế của Schuyler. Tối hôm đó, Jack cũng khám phá ra sự thật về mối quan hệ giữa cậu và em gái. Mimi chính là nửa kia của Jack, và dù tốt hay xấu, cô cũng là đồng minh thân cận nhất của cậu, nhưng đồng thời lại cũng là kẻ thù nguy hiểm nhất. Hai người là một cặp sinh đôi theo nhiều nghĩa chứ không phải chỉ một như thông thường.
Nhưng cho dù Jack chấp nhận tất cả những điều đó thì vẫn còn một câu hỏi tồn tại trong đầu cậu. Tại sao Ủy Ban phải giấu giếm? Có thật là Máu Bạc đã quay trở lại không? Ba cậu cư xử như thể toàn bộ chuyện này đã được giải quyết ổn thỏa, chỉ vì vài tháng trước, các cuộc giết chóc đột nhiên ngừng lại.
Charles thở dài.
- Ta chỉ nói với cô ta rằng chuyến đi của cô ta tới Venice là vô ích. Cô ta đã được tiêm vào đầu cái ý tưởng rằng ông ngoại của cô ta, bằng cách nào đó, có thể giải đáp tất cả các câu hỏi ngu ngốc của cô ta. Nhưng ông ta sẽ không như vậy. Ta biết Lawrence quá rõ; ông ta sẽ đứng ngoài cuộc như ông ta vẫn thường làm. Và như vậy chuyến đi của cô ta chẳng phải là công cốc sao?!
Jack cũng đoán được phần nào sự việc. Cậu biết ba cậu không thích Lawrence Van Alen, và qua những ký ức mới tìm lại được, Jack càng khẳng định chắc chắn điều này.
- Còn câu hỏi nào nữa không? – Charles hỏi.
Jack nhìn xuống đôi giày da sơn được đánh bóng cho dịp đặc biệt. Cậu có thể nhìn thấy hình ảnh trầm ngâm của chính mình phản chiếu trên bề mặt da sáng loáng.
- Không, thưa ba. - Jack lắc đầu. Làm sao cậu có thể nghi ngờ ba mình chứ? Charles Force chính là Michael Trái Tim Thuần Khiết, là Thủ lĩnh của gia tộc. Ông là một ma cà rồng do lựa chọn chứ không phải do tội lỗi đày ải.
- Tốt. – Charles nói, phủi phủi những xơ vải trên chiếc áo đuôi tôm màu đen của Jack và chỉnh lại dáng đứng của cậu con trai cho thẳng lưng. – Đây là Vũ hội Four Hundred, nơi con sẽ được giới thiệu chính thức trước toàn cộng đồng của chúng ta. Ta tự hào về con.
Trinity, em yêu? Em đã xong chưa? – Charles gọi với vào phòng thay đồ.
Jack nhìn thấy mẹ mình, Trinity Burden Force, đi ra từ phòng thay đồ và mỉm cười âu yếm với chồng. Bà mặc một chiếc váy dạ hội dài may bằng lụa sác-mơ màu đỏ thẫm với chiếc cổ tim và phần lưng để lộ. Ba mẹ cậu là cặp đôi mở màn vũ hội đêm nay. Nhưng Charles đã nói cho Jack biết rằng trước đây, vinh dự này vốn không thuộc về Trinity. Trên thực tế, bà có được nó mới chỉ trong mười sáu năm nay, vì Allegra Van Alen không thể đứng cạnh anh trai mình ở vị trí đó. Đó cũng là mười sáu năm gia tộc Máu Xanh thiếu vắng sự dẫn dắt của Gabrielle Thanh Khiết.
Cùng lúc đó, trong phòng bên cạnh, Mimi Force đang ngồi trên chiếc ghế mạ vàng, trên người khoác một chiếc áo choàng tắm may bằng lông Thổ Nhĩ Kỳ, trong khi một toán các nhà tạo mẫu và thợ làm móng vây quanh cô, chăm sóc từng xen-ti-mét cơ thể cô. Tóc cô được chải ngược ra sau thành một búi yêu kiều, bên cạnh đó là một trợ lý tay đang cầm chiếc máy sấy loại có công suất cực mạnh. Phía trước mặt là hai trong số những chuyên viên trang điểm nổi tiếng nhất New York đang làm nốt phần việc cuối cùng của mình: một người thoa son môi, còn người kia thoa phấn nền quanh mặt Mimi.
Mimi vẫn ngồi trên ghế, tay cầm di động trong lúc ghé miệng thổi lên những chiếc móng tay sơn màu “Socialite” ngọc trai.
- Ôi Trời ơi, ở đây đang tán loạn hết cả lên, xin lỗi nhé, tớ không nghe rõ. Cậu nói mấy giờ thì nhà cậu mới tới được đây cơ? Nhà tớ ở luôn tại khách sạn. Ừ, trên dãy phòng tầng thượng. Xin lỗi, cậu chờ máy mấy giây nhé? Này anh, hey, anh đó. – Mimi cất giọng sắc lẻm hướng về phía anh chàng tạo mẫu với chòm râu dê đang cầm máy sấy. – Suýt chút nữa anh làm tai tôi cháy xém rồi đấy. – Cô nói đồng thời ném về phía anh ta cái nhìn hằn học. – Xin lỗi, Bliss, tớ phải đi đây. – Mimi gập di động lại, mọi hoạt động xung quanh cô đột nhiên ngừng hẳn.
- Xong chưa đây? – Cô hỏi.
- Đây, cô xem. – Một nhà tạo mẫu đưa cho cô tấm gương.
- Polaroids! – Mimi ra lệnh.
Một trong những trợ lý mặc áo sơ mi đen nhanh chóng bấm máy. Mimi kiểm tra hình ảnh của mình trong gương cũng như trên ảnh. Cô săm soi bản thân từng li một, cố tìm kiếm dấu vết của một lỗi nhỏ nào đó mà không thèm quan tâm việc đó tốn bao nhiêu thời gian. Tóc của cô được chải và tạo kiểu lộng lẫy, ôm lấy khuôn mặt như thể một chiếc mũ miện bằng vàng. Da cô sáng ngời, duy chỉ có viền phấn sậm màu quanh mí mắt càng làm nổi bật con ngươi màu xanh ngọc lục bảo trong đôi mắt cô, còn môi cô nhuộm một màu hồng tươi mát.
- Được rồi, tôi nghĩ như vậy là ổn rồi đấy. – Mimi cất giọng vương giả, đoạn đuổi những người xung quanh ra ngoài chỉ bằng một cái vẫy tay mà không hề có chút dấu hiệu nào tỏ lòng cảm ơn. Mimi vốn coi đó như là ân huệ của họ khi được coi sóc cô, chứ không phải ngược lại.
Ngay sau đó, cô hầu phòng bước vào, mang theo một hộp các-tông màu trắng kích cỡ gần bằng chiếc quan tài của một đứa trẻ con. (Không còn gì để so sánh sao?! >.<) Nó vừa được chuyển tới khách sạn vào phút cuối cùng. Mimi vỗ tay khi vừa nhìn thấy nó.
- Nó đây ạ! – Cô hầu phòng sung sướng nói. Thật vô phúc cho cô gái, mới mấy phút trước thôi, cô vừa phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Mimi chỉ vì vũ hội sẽ bắt đầu trong vài giờ nữa mà váy của cô nàng vẫn chưa được mang đến.
- Tôi thấy rồi. Tôi có phải con ngốc đâu. – Mimi nạt nộ.
Cô chạy lại phía chiếc hộp, đặt nó lên tấm vải phủ giường, rồi xé lớp giấy gói hàng màu nâu mau lẹ như một cơn lốc xoáy. Sau khi rời khỏi showroom của Dior, Mimi đã phàn nàn với mẹ cô về chuyện chưa tìm được chiếc váy dạ hội phù hợp. Ngay lập tức, Trinity đã trấn an cô bằng một cuộc hẹn trực tiếp tại xưởng thiết kế của Balenciaga với nhà thiết kế trưởng của hãng này.
Sau cuộc hội bàn kéo dài năm giờ đồng hồ, Mimi đã từ chối và loại bỏ không biết bao nhiêu mẫu váy, khiến nhà thiết kế phải xé mất mấy chục trang phác họa.
- Chính xác thì cô muốn thứ gì? – Ông ta hỏi, cơn tức giận đã lên tới đỉnh điểm – Cô còn khó tính hơn cả một cô dâu.
- Chính vậy. – Mimi thở hắt ra. Cô nhắm mắt lại và nhìn thấy hình ảnh của chính mình đang đi bên cạnh Jack trước lễ “giới hạn máu” đầu tiên của họ. Lúc đó, Mimi mặc một chiếc váy màu trắng giản đơn, trông gần như chỉ là một tấm vải bình thường, hay giống như một tấm áo choàng. Jack và cô, tay trong tay, đang đi chân trần dọc các con phố của Venice để đến nơi cử hành lễ.
- Màu trắng, chiếc váy phải màu trắng. – Mimi thì thầm. - Trắng như tuyết. Trong suốt như những giọt nước mắt.
Giờ thì nó đã ở đây, náu mình trong những lớp giấy lụa bọc ngoài. Chiếc váy trong mơ của cô.
Nó được làm từ loại lụa sa-tanh trắng mỏng nhất, và khi Mimi cầm chiếc váy lên, cô có cảm giác nó như một lời thì thầm mơn trớn giữa các ngón tay cô. Thật mỏng manh làm sao. Đúng như yêu cầu của Mimi, chiếc váy cực kỳ đơn giản. Chiếc móc áo lúc này trông như chẳng có gì ngoài một mảnh vải trắng đơn thuần treo trên đó. Hai bên hông váy đính sợi dây bạc khá nặng; ngoài ra còn có một cái lỗ khóa khá tạo bạo nhưng rất khêu gợi ngay chỗ phần xương chậu. Đó là sự nhượng bộ duy nhất đối với phong cách hiện đại mà Mimi đã cho phép nhà thiết kế thêm vào. Mimi lắc mình khỏi chiếc áo choàng tắm, để nó trôi tuột xuống sàn nhà. Cô đứng giữa phòng, hoàn toàn khỏa thân khi cô hầu phòng giữ cái váy ở trên cao. Mimi xỏ tay chân vào trong váy, cảm thấy sự nhẹ nhàng, thanh thoát của chiếc váy - những thớ vải mỏng như tơ dập dờn trên da cô như thể làn sương mờ giăng trên thân hình mảnh mai của cô.
- Lui đi. – Cô cất tiếng cộc lốc với người hầu phòng. Cô gái kia vẫn còn run lẩy bẩy vì sợ hãi, suýt chút nữa vấp phải chiếc áo choàng tắm khi vội vã lui ra cửa. Mimi buộc sợi dây bạc xung quanh eo, đoạn săm soi làn da rám nắng lộ ra qua chỗ lỗ khóa để hở. Khi đứng trước ánh sáng, cả thân hình cô sẽ tạo thành một bóng hình tối sẫm hoàn toàn, làm nổi bật mọi đường cong của cơ thể cô, từ cổ xuống ngực, từ eo xuống hông rồi xuống đôi chân thon dài. Trông cô rõ ràng mặc váy mà lại như không mặc. Kín đáo mà lại hở hang.
Mimi quyết định không mặc đồ lót.
Sẽ không một ai có thể nhìn cô mà không thốt lên tiếng kêu trầm trồ kinh ngạc.
- Wow.
Cô mỉm cười. Cũng không cần đợi quá lâu phải không?!
Cô quay lại phía tiếng kêu vừa thốt ra và đối diện với anh trai mình.
Jack đang đứng trước ngưỡng cửa phòng cô, một tay vẫn còn đặt trên quả đấm cửa. Charles cử cậu tới đón em gái. Mái tóc ánh kim đẹp đẽ của cậu chải ngược ra sau, trên khuôn mặt cậu lộ rõ cái nhìn dịu dàng.
“Trông em…” - Cậu truyền tín hiệu tới cô.
“Em biết…”
Họ lại quay trở lại thói quen cũ: nói chuyện mà không cần mở miệng. Jack để em gái xâm nhập vào từng suy nghĩ, ký ức của cậu.
Ánh mắt Jack đờ đẫn. Mimi có thể nhìn thấy cái mà cậu đang nhìn trong đôi mắt kia, và cô biết Jack cũng đang nhớ lại đêm đầu tiên đó. Cô có thể nhìn thấy bầu trời Venice không một gợn mây, và bước chân họ nhẹ nhàng, mau lẹ trên cầu. Cô có thể nhìn thấy chính mình qua ánh mắt cậu. Trẻ hơn lúc này hàng thế kỷ. Trông họ mới non trẻ làm sao trước bình minh của thế giới, trước khi các cuộc chiến tranh bắt đầu và trước khi đêm tối tràn đến bao phủ lấy họ.
“Sao em tìm được… có phải vẫn chiếc váy đó không?”
“Không, đáng tiếc là chiếc váy cũ đã trôi theo dòng sông Tiber mất rồi… Lụa không bền lâu đến thế được. Đã một nghìn năm rồi mà, anh yêu. Đây là chiếc váy mới, cho hôn lễ mới.
“Nhưng không phải lúc này.” – Jack bật lại ngay.
Hình ảnh cả hai đang cùng chia sẽ bỗng biến mất. Mimi bực mình vì bị kéo ra khỏi ký ức dễ chịu.
- Chưa, chưa phải lúc này. – Mimi đồng ý.
Jack và Mimi sẽ không giới hạn máu với nhau chính thức cho tới sinh nhật lần thứ hai mốt của cả hai. Theo luật lệ của ma cà rồng, lễ giới hạn máu - một kiểu hôn lễ thần thánh giữa ma cà rồng với nhau - về bản chất chính là một lời tuyên thệ vĩnh cửu. Tuy nhiên nó sẽ không được tiến hành cho tới khi họ đủ tuổi. Cứ mỗi lần xuất hiện trong chu kỳ mới, họ lại phải làm lại lễ giới hạn; mặc dù đây là lần đầu tiên họ được sinh ra với tư cách là một cặp sinh đôi trong cùng một gia đình, khiến cho tình hình rối hơn đôi chút vì những điều luật rắc rối của loài người. Nhưng chẳng hề gì. Bản thân họ vốn là một cặp ma cà rồng sinh đôi, tuy rằng đối với ma cà rồng, điều này mang một ý nghĩa khác so với loài người. Nó có nghĩa là tâm hồn họ đã được gắn chặt với nhau từ khi còn ở Thiên Đàng, nơi họ đã tuyên thệ tình yêu của mình.
Lễ giới hạn không thể thực hiện cho tới khi cả hai lấy lại được toàn bộ ký ức và hoàn toàn làm chủ được sức mạnh của mình. Các cặp sinh đôi ma cà rồng mất nhiều chu kỳ để tìm kiếm nhau, và các cặp được giới hạn với nhau phải đến tuổi mới có thể nhận ra hình dạng mới của người kia, vì cứ sau một chu kỳ, Máu Xanh lại thay đổi vỏ bề ngoài mới. Theo những gì Mimi biết, xuyên suốt chiều dài lịch sử của gia tộc ma cà rồng, chỉ có một cặp đôi duy nhất đã phá vỡ lời thề của mình. Gabrielle với thân phận là Allegra Van Alen đã chối bỏ Michael với thân phận là Charles Van Alen Force trong chu kỳ này. Allegra đã làm đám cưới – LÀM ĐÁM CƯỚI - trong nhà thờ, một thánh đường linh thiêng, và đã cam kết thề nguyền với một người trần mắt thịt! Chính xác là với thần linh quen thuộc loài người của bà ấy! Và xem chuyện gì đã xảy ra… Gabrielle đã mắc kẹt trong hôn mê, mãi mãi chịu cảnh dở sống dở chết. Hay đúng hơn là vĩnh viễn bị giam hãm trong sự câm lặng.
- Nhưng sao phải đợi chứ? – Mimi hỏi. – Em đã nhận ra anh là ai kể từ khi em bắt đầu lấy lại ký ức. Còn anh giờ cũng đã nhận ra em là ai rồi.
Mimi ám chỉ tới buổi tối trong thư phòng của Charles Force khi mà cuối cùng Jack cũng lấy lại được một phần ký ức của mình, cho phép cậu nhìn ra chân tướng người luôn kề vai sát cánh bên cậu. Họ là hai mà như một. Cô thuộc về cậu. Mãi mãi.
- Anh biết là em yêu anh mà. – Mimi nói – Anh khiến em phát điên lên được, nhưng Chúa cứu vớt linh hồn em, Jack, em thực sự yêu anh.
Jack cúi đầu, để sống mũi chôn vùi trong mái tóc của Mimi. Có mùi của cây kim ngân và hoa nhài. Jack hít một hơi thật sâu.
- Anh cũng yêu em. - Cậu đáp lại.
- Ôi lạy Chúa tôi. – Trinity thốt lên kinh ngạc.
Mimi và Jack từ từ tách nhau ra khỏi cái ôm và quay lại nhìn mẹ họ lúc này đang đứng ở ngưỡng cửa ra vào.
- Mimi, con mới chỉ mười sáu tuổi. Và chắc chắn đó không phải là chiếc váy mà một cô gái mười sáu tuổi nên mặc đâu. – Trinity lên án, giọng bà run rẩy.
- Liệu con có nên nhắc cho mẹ nhớ con còn nhiều tuổi hơn mẹ hàng thế kỷ không, thưa Mẹ? – Mimi khụt khịt tỏ vẻ chế giễu. Cô đang bước sang tuổi trưởng thành, những ký ức đang tràn về ngày một rõ nét hơn. Và nó khiến Mimi bắt đầu thấy chán ngán cái trò chơi gia-đình-hạt-nhân-kiểu-Máu-Đỏ này đến tận cổ rồi.
- Charles. – Trinity nói. - Kiểm soát các con anh đi.
- Mimi, trông con tuyệt quá. – Charles nói, hôn lên trán cô con gái. – Đi thôi nào.
Trinity gầm gừ.
- Lại đây nào, em yêu, đến giờ vũ hội rồi. – Charles cất giọng dịu dàng, đoạn nắm lấy tay vợ và dẫn bà ra khỏi phòng.
- Chúng ta cũng đi chứ? – Jack hỏi, chìa tay cậu ra.
- Vâng, đi thôi. – Mimi mỉm cười.
Cặp sinh đôi nhà Force sánh vai nhau bước ra khỏi phòng, tay khoác tay, tiến tới buổi vũ hội lớn nhất của năm.
Monday, August 2, 2010
Vũ hội hóa trang - Chương 10
Vô vọng. Giờ thì mọi thứ trở nên vô vọng thật rồi. Ông ngoại cô hóa ra là một kẻ vô dụng, một ông lão nhát gan chẳng thiết gì ngoài những quyển sách, những điếu xì-gà và rượu của ông ta. Cô đã mong chờ điều gì chứ? Một người thầy, một người dẫn lối đưa đường… một người cha. Một ai đó có thể làm vơi đi gánh nặng đang đè trên vai cô, dù chỉ là trong chốc lát. Lúc này đã là buổi sáng ngày hôm sau, Schuyler đang ở trong phòng khách sạn gói ghém hành lý, đoạn nhớ lại những lời của Lawrence trước khi chia tay.
- Ta xin lỗi, Schuyler. Cordelia đã sai lầm khi gửi cháu đến tìm ta. - Vừa nói ông vừa bước tới chỗ lò sưởi.
- Sự thật là, từ lâu ta đã không còn hứng thú với bất cứ chuyện gì liên quan đến gia tộc nữa rồi. Ta đã rửa tay gác kiếm sau sự kiện xảy ra ở Roanoke. Kể từ ngày đó, bọn họ đã chọn theo Michael, và vẫn luôn như vậy ngay cả trong những chu kỳ về sau. – Ông nói, ám chỉ chuyện các thành viên trong gia tộc Máu Xanh đã chọn Michael và trao ông ta quyền Thủ lĩnh gia tộc khi rắc rối ập đến với họ ở Roanoke, lúc đó có vẻ như Máu Bạc đã quay trở lại. – Và nếu ta không nhầm thì tới tận ngày hôm nay, họ vẫn giữ nguyên lựa chọn đó, chỉ có điều giờ Micheal đã mang tên mới là Charles Force. – Lawrence lắc đầu – Khi cậu ta quay lưng lại với gia đình và chối bỏ cái tên Van Alen, ta đã thề rằng ta sẽ không bao giờ quay về với gia tộc nữa. Than ôi! Cháu đã mất công vô ích rồi, Schuyler. Ta giờ chỉ là một lão già. Và ta muốn sống cho tới hết cuộc đời bất tử này trong thanh bình. Ta chẳng thể giúp cháu điều gì được.
- Nhưng Cordelia đã nói là…
- Cordelia đã đặt quá nhiều niềm tin nơi ta, lúc nào cũng vậy. Chìa khóa đánh bại Máu Bạc nằm ở Charles và Allegra, chứ không phải ở ta. Chỉ có Thiên thần Thanh Khiết mới có thể cứu Máu Xanh thoát khỏi bọn Máu Bạc Tàn Bạo. Ta xin lỗi vì chẳng giúp gì được. Ta đã thề từ bỏ gia tộc mãi mãi khi ta chịu đi đày rồi.
- Hóa ra Charles Force đã đúng về ông. – Schuyler nói, giọng run run.
- Ý cháu là sao? – Lawrence hỏi lại trong cảm giác mơ hồ.
- Ông ta nói ông không bằng một nửa người đàn ông mà Cordelia mong muốn. Rằng cháu sẽ chỉ tìm được sự thất vọng và bối rối nếu quyết đi Venice.
Lawrence lùi lại phía sau như thể ông vừa nhận một cú đấm từ chính diện. Trên khuôn mặt ông hiện lên vô số những cung bậc cảm xúc: xấu hổ, giận dữ, kiêu hãnh; nhưng dù là gì, ông vẫn chỉ im lặng. Cuối cùng, ông đột nhiên xoay lưng lại phía cô và bỏ ra khỏi phòng, đóng sầm cánh cửa lại phía sau lưng.
Hừm. Vậy đấy. Schuyler kéo khóa túi hành lý, lẳng nó qua vai và bước ra ngoài về phía thang máy, nơi Oliver đang đứng chờ. Cậu không hề cất tiếng chào hay chúc cô buổi sáng tốt lành. Schuyler biết nếu cô muốn, chỉ cần vài khắc cô đã có thể thâm nhập ý nghĩ cậu. Suy nghĩ của Oliver lúc nào cũng “tỏa sóng” như thể một cái đài thu phát vệ tinh. Nhưng Schuyler chưa bao giờ làm vậy. Cô không nghĩ rằng xâm nhập đầu óc người khác là đúng. Hơn nữa, chẳng cần có siêu năng lực, Schuyler cũng hiểu cậu bực mình với cô vì đã không gọi lại cho cậu đêm hôm qua.
Hôm qua, tài xế riêng của Lawrence đã đưa cô về khách sạn vào lúc rất khuya. Schuyler nhận được rất nhiều tin nhắn đầy lo lắng và quan tâm từ cậu bạn trên cả máy di động lẫn hộp thư thoại trong phòng khách sạn. Đáng lẽ ra cô định gọi lại cho cậu ngay lúc đó, nhưng vì cảm thấy đã quá khuya nên cô không muốn đánh thức cậu dậy.
- Tớ cứ nghĩ cậu chết rồi. – Oliver lên giọng buộc tội.
- Nếu đúng vậy thì cậu có thể cầm iPod của tớ.
- Hừ. Cái đó lởm phát khiếp. Nó thậm chí còn không xem được video.
Schuyler cố nén lại một nụ cười. Cô biết Oliver không thể giận cô lâu được.
- Dù sao thì, cậu cũng đã lỡ mất chương trình phát sóng lễ trao giải thưởng âm nhạc Châu Âu. Chương trình đó đúng là vui nhộn kinh khủng. David Hasselhoff chiếm đóng ở tất cả các hạng mục đề cử.
- Tệ thật đấy.
- Mà bố tớ đi trước rồi, ông ấy bay chuyến sớm hơn. Phải về sớm để tham dự cuộc họp cổ đông nào đó. – Oliver cằn nhằn.
Schuyler liếc sang phía cậu bạn. Bờm tóc mái màu hạt dẻ che mất vầng trán cậu, và đôi mắt nâu nhạt ấm áp, pha một chút màu lục và hoàng ngọc, đang chan chứa lo lắng và quan tâm. Schuyler cố gắng kiềm chế bản thân, ngăn những ngón tay muốn vươn ra chạm vào cổ cậu. Một cái cổ trông thật yếu đuối và mời mọc làm sao. Gần đây Schuyler bắt đầu cảm nhận một khao khát mới đang bùng phát trong huyết quản cô: khao khát được “uống”. Cơn khát rền rĩ một cách chậm rãi, như một điệu nhạc từ phía đằng xa mà bạn thậm chí còn không nhận ra, nhưng thi thoảng nó lại bùng lên dữ dội, không gì át đi được. Cô nhận ra bản thân mình đang bị hút về phía Oliver theo một cách hoàn toàn mới, khiến cô đỏ mặt mỗi khi nhìn cậu.
Chuyện này cũng gợi nhắc Schuyler về ông bố người trần của cô - người vốn là thần linh quen thuộc loài người của mẹ cô, nhưng rồi mẹ đã lấy vị thần linh quen thuộc ấy làm chồng, bất chấp luật lệ của gia tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử Máu Xanh, ranh giới giữa ma cà rồng và người trở nên mờ nhạt, và kết quả của nó chính là Schuyler. Một đứa con lai nửa người nửa ma cà rồng. Dimidium Cognatus.
Schuyler cũng chỉ mới khám phá ra bí mật về xuất thân của mình vài tháng trước, nhưng chỉ tới tận bây giờ cô mới hiểu rằng dòng máu đang chảy trong người cô chính là số phận của cô. Chính dòng máu ấy đã tạo nên vô vàn mạch máu phức tạp ẩn bên dưới làn da của cô. Và lúc này, máu đang gọi máu. Máu của cô đang gọi máu của Oliver…
Schuyler chưa bao giờ nhận ra cậu bạn thân nhất của mình trông mới đẹp trai làm sao. Da cậu thật mềm mại. Cô muốn với tay chạm vào điểm dưới yết hầu của cậu biết bao, rồi hôn vào chỗ đó và rồi, có thể, cắm những chiếc răng nanh vào làn da nơi đó… và uống…
- Vậy hôm qua cậu đã ở chỗ nào thế? – Oliver cất tiếng, phá vỡ dòng suy nghĩ của Schuyler.
- Chuyện dài lắm. – Schuyler đáp, đúng lúc cửa thang máy mở ra và cả hai bước vào trong.
Trong lúc ngồi trên chiếc taxi gỉ sét chạy dọc qua các con phố rải cuội để đến cái sân bay bé tin hin của thành phố, Schuyler đã kể lại mọi chuyện cho Oliver, người lúc này đã biến thành một thính giả nhiệt tâm.
- Khỉ thật! – Oliver nói – Nhưng biết đâu một ngày nào đó ông ấy lại đổi ý thì sao.
Schuyler nhún vai. Cô tự biện hộ cho bản thân, rằng cô đã làm đúng như những gì bà ngoại dặn dò, nhưng cô chẳng thể làm được gì hơn một khi đã bị từ chối. Mà Schuyler thực sự không nghĩ rằng cô còn có thể làm thêm được bất cứ điều gì nữa.
- Có thể là vậy, mà cũng có thể không. Thôi, đừng nói về chuyện này nữa. – Cô thở dài.
Chuyến bay tới Rome bị hoãn, nên cả hai giết thời giờ bằng cách lượn lờ qua các cửa hàng lưu niệm miễn thuế. Oliver cười nhăn nhở khi chỉ cho Schuyler một tờ tạp chí trông khá bắt mắt của Ý. Schuyler mua vài cuốn, thêm một chai nước và vài thanh kẹo cao su để chữa ù tai khi máy bay cất cánh và hạ cánh. Đang đứng xếp hàng chờ thanh toán thì Schuyler chợt phát hiện ra một đống mặt nạ kiểu Venice xếp thành chồng trên quầy. Mặc dù còn mấy tháng nữa mới tới lễ hội Carnival nhưng vào thời điểm này, trên đường phố Venice đã bắt đầu tràn ngập những người bán rong vỉa hè chào bán mấy thứ như thế này. Schuyler quả thực hiếm khi để ý tới mấy thứ đồ lặt vặt rẻ tiền, nhưng trong đống mặt nạ nằm trên quầy có một chiếc đã thu hút được sự chú ý của cô.
Đó là một chiếc mặt nạ ôm toàn bộ khuôn mặt, chỉ chừa lại hai con mắt. Nó được làm từ loại sứ tốt nhất, bên trên mặt nạ đính những hạt cườm trang trí bằng vàng và bạc.
- Nhìn này. – cô nói trong khi tay cầm chiếc mặt nạ giơ lên cho Oliver xem.
- Cậu mua cái thứ lòe loẹt này làm gì? – Oliver hỏi.
- Tớ cũng không biết nữa. Dù sao tớ cũng chẳng có cái gì gọi là quà kỷ niệm Venice, thế nên tớ sẽ mua nó.
Chuyến bay tới Rome đã đủ kinh khủng khiếp rồi, vậy mà chuyến bay tới New York thậm chí còn tệ hơn: máy bay lắc lư nhiều đến nỗi Schuyler đã nghĩ cô sẽ phát điên lên mất vì hai hàm răng cứ liên tục va vào nhau mỗi lần máy bay nẩy lên hạ xuống. Cho tới khi nhìn ra ngoài cửa sổ và thấy được bầu trời New York, Schuyler bỗng cảm nhận được một đợt sóng tình cảm dâng trào, chan chứa tình yêu đối với thành phố quen thuộc, nhưng cũng đượm chút thê lương vì biết rằng chẳng có ai chờ cô ở nhà, ngoại trừ hai người giúp việc trung thành mà giờ đã trở thành những người bảo hộ hợp pháp của cô, theo ý nguyện của Cordelia. Thôi thì ít nhất vẫn còn có Xinh Đẹp. Con chó không chỉ là con vật cưng của cô, mà còn là người bạn trung thành và là người bảo vệ của cô nữa. Xinh Đẹp cũng có chân đóng góp trong sự biến đổi, nó chứa một phần linh hồn của Cordelia đã chuyển hóa và lưu lại ở thế giới này để bảo vệ Schuyler cho đến khi cô có thể kiểm soát được toàn bộ sức mạnh của mình. Suốt mấy tuần rồi, cô nhớ nó quá.
Hai người xuống máy bay và di chuyển tới phòng chờ để lấy hành lý. Lúc này cả Schuyler và Oliver trông thực sự rã rời sau chuyến bay dài. Gần mười lăm tiếng đồng hồ bay liên tục khiến cả hai trông thật tiều tụy. Họ về tới New York lúc trời đã nhá nhem tối. Cả hai bước ra khỏi khu vực sân bay và bắt gặp ngay một lớp tuyết mỏng trên lề đường. Vậy là đã sang tuần đầu tiên của tháng Mười Hai. Cuối cùng thì mùa đông cũng đã tới thật rồi.
Oliver tìm thấy xe của nhà cậu và bác tài xế đang vẩn vơ bên lề đường, đoạn dẫn Schuyler về phía chiếc Mercedes Maybach màu đen. Khi đã yên ổn trên chiếc ghế ngồi bọc da ấm áp trong xe, Schuyler thầm cảm ơn các Thánh thần đã đem Oliver tới cho cô. Tài sản (kếch sù) của gia đình cậu tuyệt nhiên rất hữu dụng trong những lúc như thế này.
Hai người ngồi yên lặng trên suốt chặng đường về thành phố, mải mê đeo đuổi những suy nghĩ của riêng mình. Đường cao tốc vắng xe nên chỉ sau nửa tiếng họ đã về tới Manhattan. Chiếc xe lái thẳng qua Cầu George Washington và tiến vào phố 125, rồi rẽ xuống khu Riverside và đậu lại trước cửa dinh thự Van Alen ở góc đường 101 và Riverside.
- Chà, tới nhà tớ rồi. – Schuyler nói. – Cám ơn cậu một lần nữa Ollie, về tất cả. Giá mà mọi chuyện với ông ngoại thuận lợi hơn thì tốt biết bao.
- Ờ, đừng bận tâm. ‘Bảo vệ và phục vụ’ là motto (câu nói ưa thích, phương châm) của tớ mà. – Oliver rướn người định hôn vào má cô như cậu vẫn thường làm, nhưng đúng phút cuối cùng Schuyler quay đầu lại, khiến mũi của hai người va vào nhau.
- Oops. – Schuyler kêu lên.
Oliver cũng thấy ngại ngùng xấu hổ; rồi thay vì hôn tạm biệt như thường lệ, họ ôm nhau trong bầu không khí chia tay ngượng nghịu.
Có chuyện gì với cô vậy? Oliver là bạn thân nhất của cô cơ mà.
Tại sao cô lại có lối cư xử đáng xấu hổ như thế chứ? Schuyler đang định mở cửa xe thì nghe tiếng Oliver hắng giọng. Cô liền quay lại nhìn cậu.
- Cậu định nói gì à?
- À, ừm, tớ đoán là tối nay cậu sẽ tới chỗ đó hả? - Oliver hỏi trong lúc gãi gãi cằm.
- Chỗ đó? – Schuyler chớp mắt.
- Cái chỗ, à, Vũ hội Four Hundred ý. – Olvier nói, đảo mắt và giơ ngón tay lên làm thành dấu ngoặc kép trong không khí, vẻ mặt ra chiều sợ hãi hơi có phần phóng đại. – Thì cái cuộc liên hoan tưng bừng của mấy con đỉa hút máu ấy.
- Ồ, nhớ ra rồi. – Schuyler gần như đã quên hẳn về buổi vũ hội mà cô buộc phải đến tham dự với tư cách là một thành viên của Ủy Ban; dù rằng Schuyler vẫn còn quá trẻ để được giới thiệu chính thức ở Vũ hội. Không như Mimi và Jack Force.
Jack Force. Suốt mấy tuần qua, Schuyler đã phải ghìm nén tình cảm dành cho người ấy, nhưng ý nghĩ về Vũ hội Four Hundred đã lôi kéo hình ảnh cậu trở lại, ám ảnh tâm trí cô. Dáng người cao ráo, gương mặt đẹp trai mê hồn, mái tóc vàng và làn da lúc nào cũng sáng lên dưới ánh mặt trời, cả đôi mắt xanh lục bảo cương nghị và nụ cười rạng rỡ khoe hàm răng trắng đều, sáng lóa.
Jack chính là người đầu tiên tỏ ý nghi ngờ về nguyên nhân ẩn sau cái chết của Aggie, bất chấp thực tế là mấy người trong Ủy Ban không hề muốn tin vào điều đó. Và chính Jack là người kiên quyết tìm ra chân tướng sự thật, cậu cũng là người mà Schuyler đã tìm đến sau khi bị tấn công. Lúc đó cậu đã an ủi cô rất nhiều, và rồi cuối cùng họ đã hôn nhau. Ký ức về nụ hôn của Jack vẫn còn hằn dấu trên môi cô. Cho dù nhắm mắt lại, Schuyler vẫn có thể ngửi thấy mùi hương của Jack – mùi vải áo mới giặt sạch sẽ và tươi mát, thoang thoảng chút nước hoa dùng sau khi cạo râu có hương vị của rừng.
Jack Force…
… Cũng chính là người đã quay lưng lại với cô khi cô lầm tưởng bố cậu là một Máu Bạc.
Schuyler tự hỏi liệu Jack đã có bạn hẹn cùng đi dự vũ hội chưa, và nếu có thì đó là ai? Cô bỗng cảm nhận được một ngọn lửa ghen tuông bùng phát dữ dội trong lòng mình khi nghĩ về hình ảnh một cô gái khác trong vòng tay Jack.
- Cậu có muốn đi với tớ không? – Schuyler quay sang hỏi Oliver; cô thậm chí còn không có chút ý niệm nào về y phục phải mặc hay bạn hẹn cùng tham dự vũ hội cho tới khi Oliver đề cập tới chuyện này.
Oliver đỏ mặt ngượng ngùng; trông cậu thật đau khổ.
- Chỉ có, ưm… ma cà rồng được mời thôi. Đó là luật rồi. Không một thần linh quen thuộc loài người hay Conduit nào được phép tới đó.
- Ôi, tớ xin lỗi, tớ không biết. – Schuyler nói – Vậy có lẽ tớ cũng không đi nữa.
Oliver nhìn ra ngoài cửa xe, lúc này tuyết đã phủ kín các nóc nhà và vỉa hè, trông xa xa tưởng chừng như một lớp pha lê trắng tinh khôi.
- Cậu nên đi. – Oliver nhẹ nhàng nói. – Cordelia chắc chắn sẽ muốn cậu tới đó.
Schuyler hiểu những lời của Oliver là đúng. Giờ đây cô là thành viên duy nhất còn lại của nhà Van Alen ở New York. Cô phải đi để đại diện cho gia đình mình.
- Được rồi, tớ sẽ đi. Nhưng tớ sẽ sớm rời khỏi đó và có thể chúng ta sẽ hẹn gặp nhau sau đó.
Oliver mỉm cười buồn bã.
- Chắc chắn rồi.
- Ta xin lỗi, Schuyler. Cordelia đã sai lầm khi gửi cháu đến tìm ta. - Vừa nói ông vừa bước tới chỗ lò sưởi.
- Sự thật là, từ lâu ta đã không còn hứng thú với bất cứ chuyện gì liên quan đến gia tộc nữa rồi. Ta đã rửa tay gác kiếm sau sự kiện xảy ra ở Roanoke. Kể từ ngày đó, bọn họ đã chọn theo Michael, và vẫn luôn như vậy ngay cả trong những chu kỳ về sau. – Ông nói, ám chỉ chuyện các thành viên trong gia tộc Máu Xanh đã chọn Michael và trao ông ta quyền Thủ lĩnh gia tộc khi rắc rối ập đến với họ ở Roanoke, lúc đó có vẻ như Máu Bạc đã quay trở lại. – Và nếu ta không nhầm thì tới tận ngày hôm nay, họ vẫn giữ nguyên lựa chọn đó, chỉ có điều giờ Micheal đã mang tên mới là Charles Force. – Lawrence lắc đầu – Khi cậu ta quay lưng lại với gia đình và chối bỏ cái tên Van Alen, ta đã thề rằng ta sẽ không bao giờ quay về với gia tộc nữa. Than ôi! Cháu đã mất công vô ích rồi, Schuyler. Ta giờ chỉ là một lão già. Và ta muốn sống cho tới hết cuộc đời bất tử này trong thanh bình. Ta chẳng thể giúp cháu điều gì được.
- Nhưng Cordelia đã nói là…
- Cordelia đã đặt quá nhiều niềm tin nơi ta, lúc nào cũng vậy. Chìa khóa đánh bại Máu Bạc nằm ở Charles và Allegra, chứ không phải ở ta. Chỉ có Thiên thần Thanh Khiết mới có thể cứu Máu Xanh thoát khỏi bọn Máu Bạc Tàn Bạo. Ta xin lỗi vì chẳng giúp gì được. Ta đã thề từ bỏ gia tộc mãi mãi khi ta chịu đi đày rồi.
- Hóa ra Charles Force đã đúng về ông. – Schuyler nói, giọng run run.
- Ý cháu là sao? – Lawrence hỏi lại trong cảm giác mơ hồ.
- Ông ta nói ông không bằng một nửa người đàn ông mà Cordelia mong muốn. Rằng cháu sẽ chỉ tìm được sự thất vọng và bối rối nếu quyết đi Venice.
Lawrence lùi lại phía sau như thể ông vừa nhận một cú đấm từ chính diện. Trên khuôn mặt ông hiện lên vô số những cung bậc cảm xúc: xấu hổ, giận dữ, kiêu hãnh; nhưng dù là gì, ông vẫn chỉ im lặng. Cuối cùng, ông đột nhiên xoay lưng lại phía cô và bỏ ra khỏi phòng, đóng sầm cánh cửa lại phía sau lưng.
Hừm. Vậy đấy. Schuyler kéo khóa túi hành lý, lẳng nó qua vai và bước ra ngoài về phía thang máy, nơi Oliver đang đứng chờ. Cậu không hề cất tiếng chào hay chúc cô buổi sáng tốt lành. Schuyler biết nếu cô muốn, chỉ cần vài khắc cô đã có thể thâm nhập ý nghĩ cậu. Suy nghĩ của Oliver lúc nào cũng “tỏa sóng” như thể một cái đài thu phát vệ tinh. Nhưng Schuyler chưa bao giờ làm vậy. Cô không nghĩ rằng xâm nhập đầu óc người khác là đúng. Hơn nữa, chẳng cần có siêu năng lực, Schuyler cũng hiểu cậu bực mình với cô vì đã không gọi lại cho cậu đêm hôm qua.
Hôm qua, tài xế riêng của Lawrence đã đưa cô về khách sạn vào lúc rất khuya. Schuyler nhận được rất nhiều tin nhắn đầy lo lắng và quan tâm từ cậu bạn trên cả máy di động lẫn hộp thư thoại trong phòng khách sạn. Đáng lẽ ra cô định gọi lại cho cậu ngay lúc đó, nhưng vì cảm thấy đã quá khuya nên cô không muốn đánh thức cậu dậy.
- Tớ cứ nghĩ cậu chết rồi. – Oliver lên giọng buộc tội.
- Nếu đúng vậy thì cậu có thể cầm iPod của tớ.
- Hừ. Cái đó lởm phát khiếp. Nó thậm chí còn không xem được video.
Schuyler cố nén lại một nụ cười. Cô biết Oliver không thể giận cô lâu được.
- Dù sao thì, cậu cũng đã lỡ mất chương trình phát sóng lễ trao giải thưởng âm nhạc Châu Âu. Chương trình đó đúng là vui nhộn kinh khủng. David Hasselhoff chiếm đóng ở tất cả các hạng mục đề cử.
- Tệ thật đấy.
- Mà bố tớ đi trước rồi, ông ấy bay chuyến sớm hơn. Phải về sớm để tham dự cuộc họp cổ đông nào đó. – Oliver cằn nhằn.
Schuyler liếc sang phía cậu bạn. Bờm tóc mái màu hạt dẻ che mất vầng trán cậu, và đôi mắt nâu nhạt ấm áp, pha một chút màu lục và hoàng ngọc, đang chan chứa lo lắng và quan tâm. Schuyler cố gắng kiềm chế bản thân, ngăn những ngón tay muốn vươn ra chạm vào cổ cậu. Một cái cổ trông thật yếu đuối và mời mọc làm sao. Gần đây Schuyler bắt đầu cảm nhận một khao khát mới đang bùng phát trong huyết quản cô: khao khát được “uống”. Cơn khát rền rĩ một cách chậm rãi, như một điệu nhạc từ phía đằng xa mà bạn thậm chí còn không nhận ra, nhưng thi thoảng nó lại bùng lên dữ dội, không gì át đi được. Cô nhận ra bản thân mình đang bị hút về phía Oliver theo một cách hoàn toàn mới, khiến cô đỏ mặt mỗi khi nhìn cậu.
Chuyện này cũng gợi nhắc Schuyler về ông bố người trần của cô - người vốn là thần linh quen thuộc loài người của mẹ cô, nhưng rồi mẹ đã lấy vị thần linh quen thuộc ấy làm chồng, bất chấp luật lệ của gia tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử Máu Xanh, ranh giới giữa ma cà rồng và người trở nên mờ nhạt, và kết quả của nó chính là Schuyler. Một đứa con lai nửa người nửa ma cà rồng. Dimidium Cognatus.
Schuyler cũng chỉ mới khám phá ra bí mật về xuất thân của mình vài tháng trước, nhưng chỉ tới tận bây giờ cô mới hiểu rằng dòng máu đang chảy trong người cô chính là số phận của cô. Chính dòng máu ấy đã tạo nên vô vàn mạch máu phức tạp ẩn bên dưới làn da của cô. Và lúc này, máu đang gọi máu. Máu của cô đang gọi máu của Oliver…
Schuyler chưa bao giờ nhận ra cậu bạn thân nhất của mình trông mới đẹp trai làm sao. Da cậu thật mềm mại. Cô muốn với tay chạm vào điểm dưới yết hầu của cậu biết bao, rồi hôn vào chỗ đó và rồi, có thể, cắm những chiếc răng nanh vào làn da nơi đó… và uống…
- Vậy hôm qua cậu đã ở chỗ nào thế? – Oliver cất tiếng, phá vỡ dòng suy nghĩ của Schuyler.
- Chuyện dài lắm. – Schuyler đáp, đúng lúc cửa thang máy mở ra và cả hai bước vào trong.
Trong lúc ngồi trên chiếc taxi gỉ sét chạy dọc qua các con phố rải cuội để đến cái sân bay bé tin hin của thành phố, Schuyler đã kể lại mọi chuyện cho Oliver, người lúc này đã biến thành một thính giả nhiệt tâm.
- Khỉ thật! – Oliver nói – Nhưng biết đâu một ngày nào đó ông ấy lại đổi ý thì sao.
Schuyler nhún vai. Cô tự biện hộ cho bản thân, rằng cô đã làm đúng như những gì bà ngoại dặn dò, nhưng cô chẳng thể làm được gì hơn một khi đã bị từ chối. Mà Schuyler thực sự không nghĩ rằng cô còn có thể làm thêm được bất cứ điều gì nữa.
- Có thể là vậy, mà cũng có thể không. Thôi, đừng nói về chuyện này nữa. – Cô thở dài.
Chuyến bay tới Rome bị hoãn, nên cả hai giết thời giờ bằng cách lượn lờ qua các cửa hàng lưu niệm miễn thuế. Oliver cười nhăn nhở khi chỉ cho Schuyler một tờ tạp chí trông khá bắt mắt của Ý. Schuyler mua vài cuốn, thêm một chai nước và vài thanh kẹo cao su để chữa ù tai khi máy bay cất cánh và hạ cánh. Đang đứng xếp hàng chờ thanh toán thì Schuyler chợt phát hiện ra một đống mặt nạ kiểu Venice xếp thành chồng trên quầy. Mặc dù còn mấy tháng nữa mới tới lễ hội Carnival nhưng vào thời điểm này, trên đường phố Venice đã bắt đầu tràn ngập những người bán rong vỉa hè chào bán mấy thứ như thế này. Schuyler quả thực hiếm khi để ý tới mấy thứ đồ lặt vặt rẻ tiền, nhưng trong đống mặt nạ nằm trên quầy có một chiếc đã thu hút được sự chú ý của cô.
Đó là một chiếc mặt nạ ôm toàn bộ khuôn mặt, chỉ chừa lại hai con mắt. Nó được làm từ loại sứ tốt nhất, bên trên mặt nạ đính những hạt cườm trang trí bằng vàng và bạc.
- Nhìn này. – cô nói trong khi tay cầm chiếc mặt nạ giơ lên cho Oliver xem.
- Cậu mua cái thứ lòe loẹt này làm gì? – Oliver hỏi.
- Tớ cũng không biết nữa. Dù sao tớ cũng chẳng có cái gì gọi là quà kỷ niệm Venice, thế nên tớ sẽ mua nó.
Chuyến bay tới Rome đã đủ kinh khủng khiếp rồi, vậy mà chuyến bay tới New York thậm chí còn tệ hơn: máy bay lắc lư nhiều đến nỗi Schuyler đã nghĩ cô sẽ phát điên lên mất vì hai hàm răng cứ liên tục va vào nhau mỗi lần máy bay nẩy lên hạ xuống. Cho tới khi nhìn ra ngoài cửa sổ và thấy được bầu trời New York, Schuyler bỗng cảm nhận được một đợt sóng tình cảm dâng trào, chan chứa tình yêu đối với thành phố quen thuộc, nhưng cũng đượm chút thê lương vì biết rằng chẳng có ai chờ cô ở nhà, ngoại trừ hai người giúp việc trung thành mà giờ đã trở thành những người bảo hộ hợp pháp của cô, theo ý nguyện của Cordelia. Thôi thì ít nhất vẫn còn có Xinh Đẹp. Con chó không chỉ là con vật cưng của cô, mà còn là người bạn trung thành và là người bảo vệ của cô nữa. Xinh Đẹp cũng có chân đóng góp trong sự biến đổi, nó chứa một phần linh hồn của Cordelia đã chuyển hóa và lưu lại ở thế giới này để bảo vệ Schuyler cho đến khi cô có thể kiểm soát được toàn bộ sức mạnh của mình. Suốt mấy tuần rồi, cô nhớ nó quá.
Hai người xuống máy bay và di chuyển tới phòng chờ để lấy hành lý. Lúc này cả Schuyler và Oliver trông thực sự rã rời sau chuyến bay dài. Gần mười lăm tiếng đồng hồ bay liên tục khiến cả hai trông thật tiều tụy. Họ về tới New York lúc trời đã nhá nhem tối. Cả hai bước ra khỏi khu vực sân bay và bắt gặp ngay một lớp tuyết mỏng trên lề đường. Vậy là đã sang tuần đầu tiên của tháng Mười Hai. Cuối cùng thì mùa đông cũng đã tới thật rồi.
Oliver tìm thấy xe của nhà cậu và bác tài xế đang vẩn vơ bên lề đường, đoạn dẫn Schuyler về phía chiếc Mercedes Maybach màu đen. Khi đã yên ổn trên chiếc ghế ngồi bọc da ấm áp trong xe, Schuyler thầm cảm ơn các Thánh thần đã đem Oliver tới cho cô. Tài sản (kếch sù) của gia đình cậu tuyệt nhiên rất hữu dụng trong những lúc như thế này.
Hai người ngồi yên lặng trên suốt chặng đường về thành phố, mải mê đeo đuổi những suy nghĩ của riêng mình. Đường cao tốc vắng xe nên chỉ sau nửa tiếng họ đã về tới Manhattan. Chiếc xe lái thẳng qua Cầu George Washington và tiến vào phố 125, rồi rẽ xuống khu Riverside và đậu lại trước cửa dinh thự Van Alen ở góc đường 101 và Riverside.
- Chà, tới nhà tớ rồi. – Schuyler nói. – Cám ơn cậu một lần nữa Ollie, về tất cả. Giá mà mọi chuyện với ông ngoại thuận lợi hơn thì tốt biết bao.
- Ờ, đừng bận tâm. ‘Bảo vệ và phục vụ’ là motto (câu nói ưa thích, phương châm) của tớ mà. – Oliver rướn người định hôn vào má cô như cậu vẫn thường làm, nhưng đúng phút cuối cùng Schuyler quay đầu lại, khiến mũi của hai người va vào nhau.
- Oops. – Schuyler kêu lên.
Oliver cũng thấy ngại ngùng xấu hổ; rồi thay vì hôn tạm biệt như thường lệ, họ ôm nhau trong bầu không khí chia tay ngượng nghịu.
Có chuyện gì với cô vậy? Oliver là bạn thân nhất của cô cơ mà.
Tại sao cô lại có lối cư xử đáng xấu hổ như thế chứ? Schuyler đang định mở cửa xe thì nghe tiếng Oliver hắng giọng. Cô liền quay lại nhìn cậu.
- Cậu định nói gì à?
- À, ừm, tớ đoán là tối nay cậu sẽ tới chỗ đó hả? - Oliver hỏi trong lúc gãi gãi cằm.
- Chỗ đó? – Schuyler chớp mắt.
- Cái chỗ, à, Vũ hội Four Hundred ý. – Olvier nói, đảo mắt và giơ ngón tay lên làm thành dấu ngoặc kép trong không khí, vẻ mặt ra chiều sợ hãi hơi có phần phóng đại. – Thì cái cuộc liên hoan tưng bừng của mấy con đỉa hút máu ấy.
- Ồ, nhớ ra rồi. – Schuyler gần như đã quên hẳn về buổi vũ hội mà cô buộc phải đến tham dự với tư cách là một thành viên của Ủy Ban; dù rằng Schuyler vẫn còn quá trẻ để được giới thiệu chính thức ở Vũ hội. Không như Mimi và Jack Force.
Jack Force. Suốt mấy tuần qua, Schuyler đã phải ghìm nén tình cảm dành cho người ấy, nhưng ý nghĩ về Vũ hội Four Hundred đã lôi kéo hình ảnh cậu trở lại, ám ảnh tâm trí cô. Dáng người cao ráo, gương mặt đẹp trai mê hồn, mái tóc vàng và làn da lúc nào cũng sáng lên dưới ánh mặt trời, cả đôi mắt xanh lục bảo cương nghị và nụ cười rạng rỡ khoe hàm răng trắng đều, sáng lóa.
Jack chính là người đầu tiên tỏ ý nghi ngờ về nguyên nhân ẩn sau cái chết của Aggie, bất chấp thực tế là mấy người trong Ủy Ban không hề muốn tin vào điều đó. Và chính Jack là người kiên quyết tìm ra chân tướng sự thật, cậu cũng là người mà Schuyler đã tìm đến sau khi bị tấn công. Lúc đó cậu đã an ủi cô rất nhiều, và rồi cuối cùng họ đã hôn nhau. Ký ức về nụ hôn của Jack vẫn còn hằn dấu trên môi cô. Cho dù nhắm mắt lại, Schuyler vẫn có thể ngửi thấy mùi hương của Jack – mùi vải áo mới giặt sạch sẽ và tươi mát, thoang thoảng chút nước hoa dùng sau khi cạo râu có hương vị của rừng.
Jack Force…
… Cũng chính là người đã quay lưng lại với cô khi cô lầm tưởng bố cậu là một Máu Bạc.
Schuyler tự hỏi liệu Jack đã có bạn hẹn cùng đi dự vũ hội chưa, và nếu có thì đó là ai? Cô bỗng cảm nhận được một ngọn lửa ghen tuông bùng phát dữ dội trong lòng mình khi nghĩ về hình ảnh một cô gái khác trong vòng tay Jack.
- Cậu có muốn đi với tớ không? – Schuyler quay sang hỏi Oliver; cô thậm chí còn không có chút ý niệm nào về y phục phải mặc hay bạn hẹn cùng tham dự vũ hội cho tới khi Oliver đề cập tới chuyện này.
Oliver đỏ mặt ngượng ngùng; trông cậu thật đau khổ.
- Chỉ có, ưm… ma cà rồng được mời thôi. Đó là luật rồi. Không một thần linh quen thuộc loài người hay Conduit nào được phép tới đó.
- Ôi, tớ xin lỗi, tớ không biết. – Schuyler nói – Vậy có lẽ tớ cũng không đi nữa.
Oliver nhìn ra ngoài cửa xe, lúc này tuyết đã phủ kín các nóc nhà và vỉa hè, trông xa xa tưởng chừng như một lớp pha lê trắng tinh khôi.
- Cậu nên đi. – Oliver nhẹ nhàng nói. – Cordelia chắc chắn sẽ muốn cậu tới đó.
Schuyler hiểu những lời của Oliver là đúng. Giờ đây cô là thành viên duy nhất còn lại của nhà Van Alen ở New York. Cô phải đi để đại diện cho gia đình mình.
- Được rồi, tớ sẽ đi. Nhưng tớ sẽ sớm rời khỏi đó và có thể chúng ta sẽ hẹn gặp nhau sau đó.
Oliver mỉm cười buồn bã.
- Chắc chắn rồi.
Vũ hội hóa trang - Chương 9
Kỳ thi cuối học kỳ đã bắt đầu diễn ra tại trường Duchesne. Không giống như ở các trường bình thường khác, học sinh tại học viện dành riêng cho người giàu này rất háo hức mong chờ kỳ thi, vì nó cũng có nghĩa là lịch học sẽ được giãn ra và nhen nhóm kế hoạch nghỉ lễ ngay sau đó. Bliss ngó qua thời khóa biểu trong lúc vội vã sải bước qua những cánh cửa bằng kính và đồng thau mạ vàng cao gấp đôi cửa thường. Ngày hôm nay cô sẽ bắt đầu kỳ thi với môn Anh văn và Lịch sủ nước Mỹ nâng cao. Ngày hôm sau là Tiếng Đức và Sinh học. Môn Luật dân sự sẽ thi vào thứ Tư, thứ Năm trống và đến thứ Sáu thì chỉ còn một bài thi vấn đáp tiếng Pháp nữa là xong.
Khi chạy trên những bậc cầu thang lớn dẫn lên tầng ba, Bliss nhận ra xung quanh mình, các nữ sinh khác đang mặc quần tập yoga, áo phông và đi bốt hiệu Ugg trong khi các nam sinh mặc áo thun dài tay đã bạc màu, quần jeans thủng lỗ và đi giày sneaker (đế mềm).
Chuyện gì thế này? Bliss nhìn lại bộ trang phục theo phong cách hàng ngày của mình: quần jeans cạp cao đóng hộp, ống quần giấu trong đôi bốt kiểu cướp biển có kéo khóa kéo lên tới tận gối, và một chiếc áo len chui đầu hiệu Stella McCartney mặc bên ngoài chiếc áo sơ mi diềm đăng-ten hiệu Derek Lam. Sao những người khác trông cứ như thể mới chui ra từ giường ngủ và mặc vội mặc vàng trong lúc trời chập chạng vậy?
- Hey, Bliss! – Mimi réo gọi tên cô trong lúc đi ra từ thư viện tầng hai.
Bliss ngạc nhiên khi thấy Mimi trong một bộ đồ mà có lẽ cô nàng thậm chí còn không bao giờ thèm ngó tới: Mái tóc vàng buộc túm trong chiếc khăn tay khổ lớn màu vàng xen lẫn xanh dương, mặt mũi thì gần như không trang điểm (thực tế, Bliss còn nhận ra một cái mụn nho nhỏ trên cằm của Mimi). Cô nàng mặc chiếc áo phông quá khổ của đội tuyển lacrosse trường Duchesne, mượn từ ông anh Jack, càng làm nổi bật bộ khung gầy gò; bên dưới là chiếc quần ngủ làm bằng vải bông flannen ôm sát và đi dép lê trông rất ư thoải mái.
- Hey! – Bliss cũng cất tiếng chào lại.
- Không nói chuyện được, tớ muộn giờ thi môn Hóa rồi. – Mimi giải thích trong lúc chạy xuống cầu thang, đôi dép lê của cô nàng phát ra những tiếng lạch bạch trên nền nhà đá hoa cương.
- Cậu vừa mới tới đấy à? – Soos Kemble hỏi trong khi bám theo sát Mimi. Cô ta mặc một chiếc áo thun Oxford quá khổ và legging len đã dão, còn mái tóc vàng thướt tha giờ được búi lên tạm bợ. Thật khó tin đây chính là cô gái hàng ngày đến trường với mái tóc sấy hoàn hảo, và luôn mặc đồ hiệu trị giá không dưới năm con số.
- Ừ. – Bliss nhún vai. – Sao vậy?
- À, mọi người khác đều ở đây từ lúc bình minh. – Soos ngáp. - Học ôn thi.
Tuyệt thật, Bliss nghĩ thầm. Cô thực sự chưa bao giờ hiểu được mấy cái luật bất thành văn ở ngôi trường này. Trên thực tế, cái vẻ tỏ ra mình là một kẻ thích gạo bài hoặc là một mọt sách luôn là mốt trong suốt các kỳ thi ở Duchesne. Bạn phải tỏ ra như thể bạn lo lắng ôn bài tới đầu tắt mặt tối. Thậm chí ngay cả các ma cà rồng Máu Xanh, những người sở hữu trí tuệ siêu phàm, cũng cần phải học thêm.
OK thôi, Bliss nhủ thầm trong lòng, ngày mai cô cũng sẽ đến trường trong bộ đồ ngủ cũ kỹ nhất mà cô có. Bliss rất ghét cái cảm giác bị cô lập một mình một kiểu như thế này. Nó cứ như thể có ai đó đang loan báo cho toàn trường biết sự thật rằng, khác với những người bạn còn lại trong khối, cô không phải là học sinh của Duchesne từ khi mới học lớp mầm. Chẳng lẽ cô cứ mãi là một kẻ ngoài rìa như thế này? Bliss tự hỏi cô có nên tỏ ra tức giận vì Mimi đã không nói cho cô biết về cái trò ăn mặc “bình dân” này không, nhưng rồi lại nghĩ có lẽ Mimi cũng có nhiều thứ phải lo hơn là ngồi đấy mà khuyên bảo cô phải ăn mặc như thế nào cho hợp mốt thi cử.
Khi Bliss đến phòng thi môn Lịch sử, gần như tất cả mọi người trong lớp đã yên vị chỗ ngồi và lặng lẽ chờ thầy giáo phát đề thi. Bliss chiếm một chỗ ở phía cuối phòng, nhìn quanh quất tìm kiếm bóng dáng Schuyler hoặc Oliver. Cô muốn chia sẻ với họ tin tức về sự trở lại của Dylan.
Dù cho Mimi không tin chăng nữa thì Bliss vẫn đoan chắc hai người đó sẽ tin cô.
Nhưng chẳng thấy họ đâu cả.
Rồi Bliss chợt nhớ ra hai người bọn họ đã được đặc cách thi sớm hơn, trước khi rời New York để đi Venice trong hai tuần. Đúng là những kẻ may mắn.
Bliss nhìn xuống tờ đề màu xanh. Câu đầu tiên liên quan đến cuộc hành trình Mayflower, Cuộc hành hương tới Tân Thế giới, và sự thành lập mười ba bang thuộc địa đầu tiên. Vì chính cô đã sống trong thời kỳ đó nên tất cả những gì Bliss phải làm chỉ là nhắm mắt lại và cuộc sống giữa chốn hoang tàn trước đây hiện ra rõ mồn một trong tâm trí. Đoan chắc mình sẽ đạt điểm cao nhất, Bliss cũng cảm thấy tự tin phần nào. Cô đẩy nhanh tốc độ làm bài, đoạn đứng dậy và nộp bài. Jack Force cũng thi cùng phòng với cô. Cậu chàng nở một nụ cười thân thiện với Bliss khi tiến đến nộp bài ngay sau cô. Cậu giữ cửa mở cho cô, và hai người cùng bước ra ngoài.
- Cậu làm bài thế nào? – Jack hỏi thăm khi họ trên đường tới cầu thang lớn.
- Xuất sắc. – Bliss nói – Nhưng tớ cứ có cảm giác mình đang gian lận, ý tớ là… cậu biết đấy.
Jack gật đầu.
- Tớ hiểu ý cậu mà. Tất cả những gì chúng ta phải làm là nhắm mắt lại, đúng không?
- Cứ như thể chúng ta có “phao” hay cái gì đó tương tự vậy. – Bliss nói.
- Ừm, nhưng chúng ta cũng không nhất thiết phải dùng nó mà. – Jack lẩm bẩm.
- Gì cơ? – Bliss hỏi lại.
- Không có gì. – Jack nhún vai.
Cái nhìn trong mắt cậu bạn trở nên xa xăm. Bliss không biết về Jack nhiều lắm, mặc dù họ hay tụ tập cùng nhau, nhưng đó chỉ vì Mimi lúc nào cũng thích có Jack kè kè bên cạnh.
- Chúc cậu thi cử tốt nhé. – Jack nói, vỗ vỗ vào vai Bliss theo kiểu anh em.
- Cậu cũng vậy. – Bliss gọi với theo.
Bliss nhìn đồng hồ, cô vẫn còn vài giờ trước khi tới bài thi tiếp theo. Có lẽ cô sẽ có đủ thời gian ghé qua căng-tin ăn cái gì đó và rồi cố gắng giành một chỗ trong thư viện, nếu như nó vẫn còn trống.
Trong lúc đang bước xuống cầu thang, Bliss bị một cô gái chặn lại. Cô nhướng một bên mày lên và hỏi:
- Có chuyện gì không?
Bliss nhận ra đó là Ava Breton, cũng đang học năm hai như Bliss. Ava là một Máu Đỏ nhưng rất nổi tiếng trong trường. Gần như tất cả bạn bè của Ava đều là ma cà rồng, nhưng hiển nhiên là cô nàng không biết gì về điều đó. Bliss nhận ra có những vết “chỉ điểm” trên cổ Ava, cho thấy Jaime Kip, cậu bạn trai Máu Xanh của cô nàng, đã chọn cô ta làm thần linh quen thuộc. Thú vị đây.
- Bliss à, tớ hỏi cậu chuyện này được không? – Ava hỏi, vén tóc ra đằng sau tai. Cô nàng đang mặc một chiếc áo phông hiệu American Apparel dài tay và quần soóc tập bóng rổ của bạn trai; bên trong cùng là lớp quần áo lót giữ nhiệt màu xám.
- Tất nhiên rồi.
- Vậy, cậu có biết gì về buổi tiệc mà Mimi và Jack Force tổ chức vào tuần tới không?
Bliss cựa mình ra chiều không thoải mái.
- Tớ…
- Cũng không có chuyện gì đâu. Chỉ là… Jaime cư xử hơi kỳ cục về chuyện này. Tớ hiểu là cậu ấy phải đi dự cái Vũ hội tổ chức ở St. Regis cùng ba mẹ cậu ấy, một chuyện đáng ngán ngẩm phải không?! Nhưng vì cậu ấy cũng không thèm mời tớ đến bữa tiệc tổ chức sau đó nên tớ nghĩ có gì đó hơi bất thường trong chuyện này.
- Tớ rất tiếc. – Bliss nói, cảm giác không thoải mái. Cô ghét khi thấy bạn bè bị bỏ ngoài cuộc vui. Cô nhớ lại cuộc sống của mình trước đây - trước khi chịu núp dưới bóng của Mimi. Trong thâm tâm, cô không thích trò loại bỏ bạn bè như thế này. Cư xử như thế thật nông cạn và hợm mình, và rõ là kiểu của Mimi. Nhưng chắc chắn không phải kiểu của Bliss. Có mất mát gì đâu mà phải hẹp hòi như thế? Vũ hội Four Hundred đúng là chỉ dành riêng cho ma cà rồng thật, nhưng buổi tiệc sau đó là dành cho thanh thiếu niên cơ mà. Càng đông thì càng vui chứ sao. Nếu có ai đó muốn tham gia thì cũng đâu tổn hại gì?
- Tớ chỉ là… chuyện này chỉ là… ý tớ là… tớ biết những người khác rồi sẽ nhận được giấy mời… - Ava cắn môi trong lúc tiếp tục nói - …và nếu như tớ không có…
- Nó sẽ được tổ chức ở Khu Thương mại, tại Trung tâm Angel Orensanz, vào lúc nửa đêm. – Bliss buột miệng. – Và đó là một vũ hội hóa trang. Cậu cần phải đeo mặt nạ, hoặc đại loại là kiểu hóa trang nào đó thì cậu mới được phép vào trong.
Một nụ cười rạng rỡ hiện ra trên khuôn mặt Ava.
- Cảm ơn cậu, Bliss. Cảm ơn cậu RẤT NHIỀU.
Chết tiệt.
Giờ thì đẹp mặt rồi.
Cô đã mời một Máu Đỏ đến dự tiệc. Mimi sẽ rất bực mình cho mà xem.
Khi chạy trên những bậc cầu thang lớn dẫn lên tầng ba, Bliss nhận ra xung quanh mình, các nữ sinh khác đang mặc quần tập yoga, áo phông và đi bốt hiệu Ugg trong khi các nam sinh mặc áo thun dài tay đã bạc màu, quần jeans thủng lỗ và đi giày sneaker (đế mềm).
Chuyện gì thế này? Bliss nhìn lại bộ trang phục theo phong cách hàng ngày của mình: quần jeans cạp cao đóng hộp, ống quần giấu trong đôi bốt kiểu cướp biển có kéo khóa kéo lên tới tận gối, và một chiếc áo len chui đầu hiệu Stella McCartney mặc bên ngoài chiếc áo sơ mi diềm đăng-ten hiệu Derek Lam. Sao những người khác trông cứ như thể mới chui ra từ giường ngủ và mặc vội mặc vàng trong lúc trời chập chạng vậy?
- Hey, Bliss! – Mimi réo gọi tên cô trong lúc đi ra từ thư viện tầng hai.
Bliss ngạc nhiên khi thấy Mimi trong một bộ đồ mà có lẽ cô nàng thậm chí còn không bao giờ thèm ngó tới: Mái tóc vàng buộc túm trong chiếc khăn tay khổ lớn màu vàng xen lẫn xanh dương, mặt mũi thì gần như không trang điểm (thực tế, Bliss còn nhận ra một cái mụn nho nhỏ trên cằm của Mimi). Cô nàng mặc chiếc áo phông quá khổ của đội tuyển lacrosse trường Duchesne, mượn từ ông anh Jack, càng làm nổi bật bộ khung gầy gò; bên dưới là chiếc quần ngủ làm bằng vải bông flannen ôm sát và đi dép lê trông rất ư thoải mái.
- Hey! – Bliss cũng cất tiếng chào lại.
- Không nói chuyện được, tớ muộn giờ thi môn Hóa rồi. – Mimi giải thích trong lúc chạy xuống cầu thang, đôi dép lê của cô nàng phát ra những tiếng lạch bạch trên nền nhà đá hoa cương.
- Cậu vừa mới tới đấy à? – Soos Kemble hỏi trong khi bám theo sát Mimi. Cô ta mặc một chiếc áo thun Oxford quá khổ và legging len đã dão, còn mái tóc vàng thướt tha giờ được búi lên tạm bợ. Thật khó tin đây chính là cô gái hàng ngày đến trường với mái tóc sấy hoàn hảo, và luôn mặc đồ hiệu trị giá không dưới năm con số.
- Ừ. – Bliss nhún vai. – Sao vậy?
- À, mọi người khác đều ở đây từ lúc bình minh. – Soos ngáp. - Học ôn thi.
Tuyệt thật, Bliss nghĩ thầm. Cô thực sự chưa bao giờ hiểu được mấy cái luật bất thành văn ở ngôi trường này. Trên thực tế, cái vẻ tỏ ra mình là một kẻ thích gạo bài hoặc là một mọt sách luôn là mốt trong suốt các kỳ thi ở Duchesne. Bạn phải tỏ ra như thể bạn lo lắng ôn bài tới đầu tắt mặt tối. Thậm chí ngay cả các ma cà rồng Máu Xanh, những người sở hữu trí tuệ siêu phàm, cũng cần phải học thêm.
OK thôi, Bliss nhủ thầm trong lòng, ngày mai cô cũng sẽ đến trường trong bộ đồ ngủ cũ kỹ nhất mà cô có. Bliss rất ghét cái cảm giác bị cô lập một mình một kiểu như thế này. Nó cứ như thể có ai đó đang loan báo cho toàn trường biết sự thật rằng, khác với những người bạn còn lại trong khối, cô không phải là học sinh của Duchesne từ khi mới học lớp mầm. Chẳng lẽ cô cứ mãi là một kẻ ngoài rìa như thế này? Bliss tự hỏi cô có nên tỏ ra tức giận vì Mimi đã không nói cho cô biết về cái trò ăn mặc “bình dân” này không, nhưng rồi lại nghĩ có lẽ Mimi cũng có nhiều thứ phải lo hơn là ngồi đấy mà khuyên bảo cô phải ăn mặc như thế nào cho hợp mốt thi cử.
Khi Bliss đến phòng thi môn Lịch sử, gần như tất cả mọi người trong lớp đã yên vị chỗ ngồi và lặng lẽ chờ thầy giáo phát đề thi. Bliss chiếm một chỗ ở phía cuối phòng, nhìn quanh quất tìm kiếm bóng dáng Schuyler hoặc Oliver. Cô muốn chia sẻ với họ tin tức về sự trở lại của Dylan.
Dù cho Mimi không tin chăng nữa thì Bliss vẫn đoan chắc hai người đó sẽ tin cô.
Nhưng chẳng thấy họ đâu cả.
Rồi Bliss chợt nhớ ra hai người bọn họ đã được đặc cách thi sớm hơn, trước khi rời New York để đi Venice trong hai tuần. Đúng là những kẻ may mắn.
Bliss nhìn xuống tờ đề màu xanh. Câu đầu tiên liên quan đến cuộc hành trình Mayflower, Cuộc hành hương tới Tân Thế giới, và sự thành lập mười ba bang thuộc địa đầu tiên. Vì chính cô đã sống trong thời kỳ đó nên tất cả những gì Bliss phải làm chỉ là nhắm mắt lại và cuộc sống giữa chốn hoang tàn trước đây hiện ra rõ mồn một trong tâm trí. Đoan chắc mình sẽ đạt điểm cao nhất, Bliss cũng cảm thấy tự tin phần nào. Cô đẩy nhanh tốc độ làm bài, đoạn đứng dậy và nộp bài. Jack Force cũng thi cùng phòng với cô. Cậu chàng nở một nụ cười thân thiện với Bliss khi tiến đến nộp bài ngay sau cô. Cậu giữ cửa mở cho cô, và hai người cùng bước ra ngoài.
- Cậu làm bài thế nào? – Jack hỏi thăm khi họ trên đường tới cầu thang lớn.
- Xuất sắc. – Bliss nói – Nhưng tớ cứ có cảm giác mình đang gian lận, ý tớ là… cậu biết đấy.
Jack gật đầu.
- Tớ hiểu ý cậu mà. Tất cả những gì chúng ta phải làm là nhắm mắt lại, đúng không?
- Cứ như thể chúng ta có “phao” hay cái gì đó tương tự vậy. – Bliss nói.
- Ừm, nhưng chúng ta cũng không nhất thiết phải dùng nó mà. – Jack lẩm bẩm.
- Gì cơ? – Bliss hỏi lại.
- Không có gì. – Jack nhún vai.
Cái nhìn trong mắt cậu bạn trở nên xa xăm. Bliss không biết về Jack nhiều lắm, mặc dù họ hay tụ tập cùng nhau, nhưng đó chỉ vì Mimi lúc nào cũng thích có Jack kè kè bên cạnh.
- Chúc cậu thi cử tốt nhé. – Jack nói, vỗ vỗ vào vai Bliss theo kiểu anh em.
- Cậu cũng vậy. – Bliss gọi với theo.
Bliss nhìn đồng hồ, cô vẫn còn vài giờ trước khi tới bài thi tiếp theo. Có lẽ cô sẽ có đủ thời gian ghé qua căng-tin ăn cái gì đó và rồi cố gắng giành một chỗ trong thư viện, nếu như nó vẫn còn trống.
Trong lúc đang bước xuống cầu thang, Bliss bị một cô gái chặn lại. Cô nhướng một bên mày lên và hỏi:
- Có chuyện gì không?
Bliss nhận ra đó là Ava Breton, cũng đang học năm hai như Bliss. Ava là một Máu Đỏ nhưng rất nổi tiếng trong trường. Gần như tất cả bạn bè của Ava đều là ma cà rồng, nhưng hiển nhiên là cô nàng không biết gì về điều đó. Bliss nhận ra có những vết “chỉ điểm” trên cổ Ava, cho thấy Jaime Kip, cậu bạn trai Máu Xanh của cô nàng, đã chọn cô ta làm thần linh quen thuộc. Thú vị đây.
- Bliss à, tớ hỏi cậu chuyện này được không? – Ava hỏi, vén tóc ra đằng sau tai. Cô nàng đang mặc một chiếc áo phông hiệu American Apparel dài tay và quần soóc tập bóng rổ của bạn trai; bên trong cùng là lớp quần áo lót giữ nhiệt màu xám.
- Tất nhiên rồi.
- Vậy, cậu có biết gì về buổi tiệc mà Mimi và Jack Force tổ chức vào tuần tới không?
Bliss cựa mình ra chiều không thoải mái.
- Tớ…
- Cũng không có chuyện gì đâu. Chỉ là… Jaime cư xử hơi kỳ cục về chuyện này. Tớ hiểu là cậu ấy phải đi dự cái Vũ hội tổ chức ở St. Regis cùng ba mẹ cậu ấy, một chuyện đáng ngán ngẩm phải không?! Nhưng vì cậu ấy cũng không thèm mời tớ đến bữa tiệc tổ chức sau đó nên tớ nghĩ có gì đó hơi bất thường trong chuyện này.
- Tớ rất tiếc. – Bliss nói, cảm giác không thoải mái. Cô ghét khi thấy bạn bè bị bỏ ngoài cuộc vui. Cô nhớ lại cuộc sống của mình trước đây - trước khi chịu núp dưới bóng của Mimi. Trong thâm tâm, cô không thích trò loại bỏ bạn bè như thế này. Cư xử như thế thật nông cạn và hợm mình, và rõ là kiểu của Mimi. Nhưng chắc chắn không phải kiểu của Bliss. Có mất mát gì đâu mà phải hẹp hòi như thế? Vũ hội Four Hundred đúng là chỉ dành riêng cho ma cà rồng thật, nhưng buổi tiệc sau đó là dành cho thanh thiếu niên cơ mà. Càng đông thì càng vui chứ sao. Nếu có ai đó muốn tham gia thì cũng đâu tổn hại gì?
- Tớ chỉ là… chuyện này chỉ là… ý tớ là… tớ biết những người khác rồi sẽ nhận được giấy mời… - Ava cắn môi trong lúc tiếp tục nói - …và nếu như tớ không có…
- Nó sẽ được tổ chức ở Khu Thương mại, tại Trung tâm Angel Orensanz, vào lúc nửa đêm. – Bliss buột miệng. – Và đó là một vũ hội hóa trang. Cậu cần phải đeo mặt nạ, hoặc đại loại là kiểu hóa trang nào đó thì cậu mới được phép vào trong.
Một nụ cười rạng rỡ hiện ra trên khuôn mặt Ava.
- Cảm ơn cậu, Bliss. Cảm ơn cậu RẤT NHIỀU.
Chết tiệt.
Giờ thì đẹp mặt rồi.
Cô đã mời một Máu Đỏ đến dự tiệc. Mimi sẽ rất bực mình cho mà xem.
Vũ hội hóa trang - Chương 8
Khi Schuyler tỉnh dậy, cô thấy mình đang nằm trên một chiếc giường cỡ “siêu đại” ở ngay chính giữa một căn phòng rộng bài trí theo phong cách mà chỉ có thể mô tả bằng cụm từ: “Hoàng gia thời kỳ đầu Trung cổ”. Ở trên bức tường đằng xa kia treo một tấm thảm lớn thêu cảnh cái chết của một con kỳ lân, trên trần nhà cheo một chùm chúc đài lớn mạ vàng với một trăm ngọn nến đang cháy sáng và nhỏ những giọt sáp xuống sàn, còn cái giường nơi cô nằm thì chất đầy những chăn nệm bằng da và lông thú rất dày. Toàn bộ căn phòng mang một vẻ tao nhã nguyên thủy nhưng cũng chứa nét hoang sơ tàn bạo. Schuyler chớp mắt mấy cái và đưa tay lên cổ. Không có vết cắn nào. Cô vẫn an toàn, ít nhất là cho tới lúc này.
- Ồ, cô dậy rồi đấy à.
Schuyler quay về phía giọng nói. Một người hầu trong bộ đồng phục đen và tạp dề trắng khẽ nhún gối chào.
- Nếu cô vui lòng, xin hãy theo tôi, thưa cô Van Alen. - Người kia nói – Tôi được sai đưa cô xuống lầu dưới.
“Sao chị ta biết tên mình nhỉ?”
- Tôi đang ở đâu đây? – Schuyler hỏi, hất tung lớp chăn nệm rồi xỏ chân vào đôi bốt chuyên dụng để đi xe máy mà cô tìm thấy trên sàn phòng.
- Điện Ducal. - Người hầu phòng trả lời, đoạn dẫn Schuyler ra khỏi phòng, hướng về phía cầu thang xoáy trôn ốc được thắp sáng bởi những ngọn đuốc treo bên tường.
Điện Ducal, hay còn là cung điện của Tổng trấn Venice, đã từng là Tổng hành dinh của chính quyền Venice trong nhiều thế kỷ, bao gồm các cơ quan hành chính và lập pháp cũng như các phòng hội đồng của thành phố. Ngoài ra nó còn là dinh thự riêng của Tổng trấn. Điện Ducal mở cừa chào đón khách du lịch vào thăm quan các hội trường lớn và các phòng trưng bày nghệ thuật. Bản thân Schuyler cũng đã từng đến thăm cung điện này trong một tua du lịch.
Nhưng lúc này, cô nhận ra mình đang ở trong khu vực riêng biệt của cung điện - một khu vực cấm, không mở cửa cho khách tham quan.
Cô hầu phòng đi trước dẫn đường, đưa Schuyler đi dọc hành lang đến một đại sảnh dài. Ở cuối sảnh là một cánh cửa làm bằng gỗ sồi rất lớn, trên cửa tạc những biểu tượng ngoại giáo và những chữ tượng hình phức tạp đủ mọi thể loại.
- Cô sẽ tìm thấy ngài ấy trong này. – Cô hầu phòng nói khi mở cánh cửa.
Schuyler bước vào trong và nhận ra đây là một thư viện lớn, kiểu như những thư viện nguy nga, hào nhoáng thuộc các cung điện của quý tộc thời xưa. Những tấm rèm nhung đỏ được vắt gọn gàng phía trên những tấm cửa sổ cao tới tận trần. Những hàng kệ, giá bằng gỗ hồ đào xếp đầy những cuốn sách bọc bìa da. Và rồi có cả những tấm lông và da thú cùng các chiến tích khác nằm rải rác khắp phòng.
Một quý ông tóc xám, dáng hơi khom trong bộ quần áo may bằng vải tuýt hiệu Harris đang ngồi trên một cái ghế lớn bọc da kê phía trước lò sưởi đang bùng cháy dữ dội.
- Lại đây. – Ông ta ra lệnh.
Bên cạnh ông ta chính là anh chàng thanh niên người Ý đẹp trai Schuyler đã đuổi theo lúc ở Triển lãm Biennale. Anh ta gật đầu với Schuyler và di chuyển đến chỗ cái ghế đặt trước mặt họ.
- Anh đã ếm bùa tôi. – Schuyler cất tiếng buộc tội.
- Đó là cách duy nhất giúp chúng tôi xác định danh tính cũng như mục đích thật sự của cô. Đừng lo, chúng tôi không làm hại cô đâu. – Chàng trai trẻ giải thích.
- Rồi sao nữa? Các người hài lòng với kết quả thu được chứ?
- Có. – Chàng trai trịnh trọng nói. – Cô là Schuyler Van Alen. Cô đang trọ tại khách sạn Danieli cùng với Oliver Hazard-Perry Cha và con trai ông ta, Oliver. Cô đang trên đường tìm kiếm thứ gì đó. Và cho phép tôi gửi tới cô một vài tin tức tuyệt vời: Cuộc tìm kiếm của cô có thể chấm dứt được rồi đấy.
- Tại sao vậy? – Schuyler hỏi lại vẻ cảnh giác.
- Vì đây chính là Giáo sư. – Chàng trai nói.
- Tôi nghe nói cô đang tìm kiếm tôi. – Giáo sư vui vẻ nói – Tôi đã không còn nổi tiếng đối với các học sinh Mỹ thời nay nữa rồi. Trước đây đúng là có rất nhiều học trò đến nghe tôi giảng bài. Nhưng giờ thì hết rồi. Vậy nói tôi nghe xem, tại sao cô lại tìm tôi?
- Cordelia Van Alen cử tôi tới. – Schuyler nói.
Khi cái tên Cordelia Van Alen được thốt ra, Giáo sư và chàng thanh niên trao đổi với nhau một cái liếc mắt đầy ý nghĩa. Hơi nóng từ lò sưởi thoát ra làm hai má Schuyler nóng bừng; nhưng không phải chỉ có sức nóng của lửa mới khiến làn da tai tái của cô đỏ hồng lên như thế. Việc nói ra cái tên Cordelia một cách trân tráo như vậy khiến cô cảm thấy tủi hổ. Những người lạ mặt này là ai? Tại sao họ lại mang cô tới đây? Cô có đúng không khi viện tới cái tên của người bà quá cố như một cái phao cứu nạn?
- Nói tiếp đi. – Giáo sư khích lệ, rướn người về phía trước, chăm chú quan sát Schuyler.
- Cordelia đã từng là bà ngoại tôi… - Schuyler tiếp tục. Kể cả những người này có là kẻ thù đi chăng nữa, thì bây giờ cô cũng không còn đường rút lui nữa rồi. Cô quan sát căn phòng, ngõ hầu tìm lối thoát thân và nhanh chóng nhận ra cánh cửa bí mật phía sau một trong những giá sách kia. Có lẽ cô có thể trốn thoát qua lối đó, hoặc cô có thể đánh bất tỉnh ông già và chàng trai trẻ này bằng câu thần chú của riêng mình, rồi bay ra ngoài cửa sổ.
- Đã từng? – Chàng thanh niên hỏi lại.
- Bà ấy đã thoát ra khỏi chu kỳ này rồi. Bà bị tấn công... – Schuyler thở mạnh. - …bởi một Máu Bạc. Một Croatan.
- Làm sao cô biết được? – chàng trai gặng hỏi. – Không một ai còn nhắc tới “Máu Bạc” kể từ thế kỷ mười bảy. Cụm từ này đã bị đào thải khỏi lịch sử của gia tộc Máu Xanh.
- Chính bà tôi đã nói lại với tôi.
- Nhưng không phải bà ấy bị “hút” mất rồi sao? – chàng trai hỏi bằng một giọng khàn đặc.
- Không, tạ ơn Trời. Kẻ tấn công đã không hút được toàn bộ máu và ký ức của bà. Bà sẽ sống chờ ngày trở lại trong chu kỳ tiếp theo.
Chàng trai dựa người ra sau thành ghế. Schuyler ngó thấy tay trái anh ta đang xoay xoay chùm chìa khóa ôtô còn chân phải thì đung đưa theo nhịp lên xuống. Anh ta có vẻ không còn đủ kiên nhẫn để nghe hết phần còn lại của câu chuyện.
- Tiếp đi nào. – Giáo sư lại hối thúc.
- Cordelia đã nói với tôi rằng chìa khóa để đánh bại Máu Bạc nằm trong tay chồng bà, ông Lawrence Van Alen, người hiện đang mai danh ẩn tích. Bà nghĩ nếu bà gửi tôi tới… nếu bà gửi tôi tới Venice này, tôi có thể tìm ra ông. Và tôi đã tìm được, đúng không?
Ánh mắt người đàn ông hấp háy.
- Có lẽ là vậy.
- Vậy thì, ông ngoại, cháu tới để nhờ ông giúp. Bà Cordelia đã nói chuyện này cần phải khẩn trương lên…
Có một tiếng húng hắng từ phía chàng thanh niên. Schuyler quay lại nhìn anh ta.
- Ta mới là Lawrence Van Alen. – Chàng thanh niên nói, rướn người tới trước. Khuôn mặt của anh ta bắt đầu thay đổi, không hẳn là biến dạng mà chỉ là thay đổi theo đặc điểm thời gian, khiến anh ta biến thành một người đàn ông già hơn. Trước mặt Schuyler lúc này không phải là người ông tóc bạc, lưng còng như cô hằng tưởng tượng. Người đàn ông trước mặt cô đây có dáng cao và gầy. Ông vẫn giữ mái tóc bồng bềnh như bờm sư tử giống của chàng thanh niên ban nãy, chỉ có điều, nó đã lốm đốm những sợi bạc. Ngay cả chiếc mũi diều hâu đậm nét quý tộc cùng chiếc cằm cao ngạo kia vẫn còn nguyên trên khuôn mặt ông không thay đổi.
Cứ như thể căn phòng co lại trước sự hiện diện của ông. Ông có dáng dấp của một vị chỉ huy, với cái nhìn sắc lạnh, khiến người ta phải kính sợ. Đây chính là người đàn ông xứng tầm đối thủ của Charles Force, Schuyler nghĩ thầm.
- Ông có khả năng biến đổi nhân dạng?! – Schuyler nói đầy vẻ ngưỡng mộ. – Đây có phải hình dáng thật sự của ông không ạ?
- Cũng thật như mọi hình dạng khác của ta. – Lawrence đáp lại. – Anderson, ông có thể cảm phiền để hai chúng tôi một mình được không?!
Người đàn ông nhiều tuổi hơn kia nháy mắt với Schuyler và lui ra khỏi phòng, đóng cánh cửa gỗ cọt kẹt sau lưng một cách nhẹ nhàng. Schuyler ngồi yên vị lại trên ghế của mình, cúi mặt nhìn xuống tấm thảm trải sàn Aubusson đã bạc màu trên nền gạch cứng. Nó trông giống hệt tấm thảm trong thư viện của Cordelia ở tòa nhà số 101 phố Street.
- Ông ấy là Conduit của ông ạ?
Lawrence gật đầu. Ông đứng dậy và đi lại phía bệ lò sưởi, mở chiếc tủ ly và lôi ra một chai rượu poóc-tô. Ông rót thứ chất lỏng màu đỏ ấy vào hai ly và đưa cho Schuyler một ly.
- Cháu đã ngờ ngợ liệu đó có phải là ông. – Cô nói khi đưa tay nhận lấy ly rượu. Cô nhấp từng ngụm chậm rãi. Rượu thật ngọt nhưng không phải vị ngọt do pha thêm chất phụ gia vào, mà là vị ngọt đậm đặc, nguyên chất và rất ngon. Rượu vốn không có tác dụng gì đối với ma cà rồng, nhưng hầu hết bọn họ đều thích hương vị của nó.
- Ta cũng đoán thế. Cháu gần như đã quay sang phía ta khi gọi tên ta, nhưng rồi lại thôi. Làm sao cháu nghĩ đó chính là ta?
- Chủ nhân thường ngồi bên tay trái, chính là vị trí của ông ban nãy, trong khi ông già kia ngồi bên tay phải của ông. – Schuyler trả lời. Đó là một trong những quy tắc ứng xử có từ thời Trung cổ mà cô học được sau những buổi học dài bất tận với Cordelia về lịch sử gia tộc Máu Xanh. Nhà vua luôn ngồi bên trái, còn hoàng hậu của ngài, hoặc bất cứ người nào khác dưới quyền đều ngồi bên phải nhà vua.
- Ồ, rất có óc quan sát. Ta đã quên mất chuyện đó. Ta đúng là già thật rồi.
- Cháu rất tiếc vì bà Cordelia không thể có mặt ở đây. – Schuyler nhẹ nhàng lên tiếng.
Lawrence thở dài.
- Không sao. Chúng ta cũng đã xa nhau tới hơn một thế kỷ rồi. Mỗi người cũng đã dần quen với cuộc sống cô đơn. Rồi sẽ có một ngày nào đó chúng ta lại được ở bên nhau, an toàn.
Ông ngồi dựa vào ghế của mình và lôi ra từ trong túi áo một điếu xì-gà.
- Vậy là, cháu là con gái của Allegra?! – Ông nói, cắt một đầu của điếu xì-gà bằng máy cắt chuyên dụng bằng bạc. – Ta đã theo dõi cháu. Ta biết cháu đi tìm ta ngay từ giây phút cháu đặt chân tới Venice. Ta đã cảm nhận được điều gì đó trong không khí. Ta vốn cứ nghĩ là mẹ cháu nhưng sớm nhận ra đó là một nguồn năng lượng khác. Và rồi ta bị cháu bắt gặp.
- Vậy ra ông chính là người phụ nữ mà cháu nhìn thấy trên phố hồi trưa nay?! Ông đã biến thành mẹ Allegra. – Schuyler như hét lên vì kinh ngạc. Giờ thì tất cả mọi chuyện đã trở nên rõ ràng.
Lawrence gật đầu xác nhận.
- Thỉnh thoảng ta lại làm vậy. Có lẽ vì ta nhớ mẹ cháu quá.
Ông nhả ra một làn khói xì-gà.
- Ta cần phải cảnh giác, không dám lộ diện ngay với cháu cho tới khi ta tìm hiểu chắc chắn về thân thế của cháu. Ta có rất nhiều kẻ thù, Schuyler ạ. Chúng đã và vẫn đang săn đuổi ta từ hàng thế kỷ nay rồi. Và cháu rất có thể là một trong số chúng.
Schuyler đột nhiên ngồi thẳng dậy, suýt chút nữa phụt rượu ra khỏi miệng.
- Bà chủ nhà trọ đó cũng là ông phải không? Ít ra thì là cái người cháu gặp lúc đầu.
Lawrence cười lặng lẽ.
- Đúng vậy. Đó chính là ta.
- Cũng chính vì thế mà bà chủ thật sự nói rằng bà ấy chưa bao giờ gặp bọn cháu khi tụi cháu trở xuống dưới lầu. Bà ấy đã nói sự thật. – Schuyler đặt chiếc ly rỗng lên chiếc bàn nhỏ bên cạnh ghế cô ngồi, cẩn thận đặt nó vào miếng lót cốc bằng vàng.
- Marie là một người thật thà. Ta đánh giá cao bà ấy vì điều đó. – Lawrence mỉm cười.
- Tại sao ông lại tự chỉ phòng mình cho tụi cháu?
- Ta vốn cũng không có ý định ấy đâu, nhưng lúc đó bị cháu đuổi theo, ta buộc phải trú tạm vào một trong số những nơi ẩn náu bí mật của ta trên khắp thành phố này. Cháu biết đấy, ta có rất nhiều địa chỉ bí mật. Người ta cần nhiều chỗ trú như vậy thì mới thực sự được gọi là thành công trong việc sống mai danh ẩn tích, đúng không?! Còn về phía Marie, bà ấy đã nói với cháu sự thật: căn phòng đó thực sự bị khóa. Nhưng cháu đã mở được nó. Ta coi đó như một dấu hiệu tốt. Ta nghĩ ta có thể cho cháu một đầu mối để xem xem cháu có khả năng tìm ra ta giữa Biennale muôn người được không. Và cháu đã làm rất tốt. Cháu cũng giống ta, đều bị tác phẩm Olafur Eliasson thu hút.
- Nhưng tại sao ngay sau đó ông lại chạy khỏi cháu? Bắt cháu phải đuổi theo ông?
- Và cháu gần như đã tóm được ta còn gì. Ôi lạy Chúa tôi, tốc độ của cháu… Cháu mạnh không thể tin được. Ta đã phải dùng hết năng lượng của mình để giữ khoảng cách dẫn đầu với cháu. Lúc đó, ta vẫn chưa chắc chắn về động cơ cũng như danh tính của cháu. Cháu khiến ta ngạc nhiên khi tìm đến tòa nhà Thuộc địa. Ta xin lỗi vì đã phải ếm bùa chú lên cháu.
- Vậy tại sao lúc này ông lại chọn tin cháu? – Schuyler thắc mắc.
- Bởi vì chỉ có con gái của Allegra mới biết câu thần chú Advoco Adiuvo mà cháu đã dùng. Cordelia và ta đã thỏa thuận với nhau rằng nếu lúc nào đó một người trong hai chúng ta tìm đến người kia thì mật khẩu nhận diện sẽ là những lời thuộc về Ngôn ngữ Thần Thánh đó. Không có thần chú Advoco, thì dù trong một ngàn năm nữa, cháu cũng sẽ không bao giờ tìm được ta, kể cả cháu có mạnh đến đâu chăng nữa. Nhưng ta buộc phải khiến cho cháu mê man bất tỉnh nhằm kéo dài thêm thời gian đủ để ta biết chắc cháu không bị người khác điều khiển. Rồi ta đưa cháu tới nơi an toàn, nơi mà chúng ta không bị theo dõi.
Schuyler gật đầu. Cô cũng đã đoán được phần nào tiến trình sự việc.
- Vậy giờ cháu đã tìm được ta rồi, cháu muốn gì nào? – Lawrence hỏi, nhìn Schuyler qua làn khói thuốc.
- Cháu muốn biết về Máu Bạc. Về tất cả những gì liên quan đến chúng.
- Ồ, cô dậy rồi đấy à.
Schuyler quay về phía giọng nói. Một người hầu trong bộ đồng phục đen và tạp dề trắng khẽ nhún gối chào.
- Nếu cô vui lòng, xin hãy theo tôi, thưa cô Van Alen. - Người kia nói – Tôi được sai đưa cô xuống lầu dưới.
“Sao chị ta biết tên mình nhỉ?”
- Tôi đang ở đâu đây? – Schuyler hỏi, hất tung lớp chăn nệm rồi xỏ chân vào đôi bốt chuyên dụng để đi xe máy mà cô tìm thấy trên sàn phòng.
- Điện Ducal. - Người hầu phòng trả lời, đoạn dẫn Schuyler ra khỏi phòng, hướng về phía cầu thang xoáy trôn ốc được thắp sáng bởi những ngọn đuốc treo bên tường.
Điện Ducal, hay còn là cung điện của Tổng trấn Venice, đã từng là Tổng hành dinh của chính quyền Venice trong nhiều thế kỷ, bao gồm các cơ quan hành chính và lập pháp cũng như các phòng hội đồng của thành phố. Ngoài ra nó còn là dinh thự riêng của Tổng trấn. Điện Ducal mở cừa chào đón khách du lịch vào thăm quan các hội trường lớn và các phòng trưng bày nghệ thuật. Bản thân Schuyler cũng đã từng đến thăm cung điện này trong một tua du lịch.
Nhưng lúc này, cô nhận ra mình đang ở trong khu vực riêng biệt của cung điện - một khu vực cấm, không mở cửa cho khách tham quan.
Cô hầu phòng đi trước dẫn đường, đưa Schuyler đi dọc hành lang đến một đại sảnh dài. Ở cuối sảnh là một cánh cửa làm bằng gỗ sồi rất lớn, trên cửa tạc những biểu tượng ngoại giáo và những chữ tượng hình phức tạp đủ mọi thể loại.
- Cô sẽ tìm thấy ngài ấy trong này. – Cô hầu phòng nói khi mở cánh cửa.
Schuyler bước vào trong và nhận ra đây là một thư viện lớn, kiểu như những thư viện nguy nga, hào nhoáng thuộc các cung điện của quý tộc thời xưa. Những tấm rèm nhung đỏ được vắt gọn gàng phía trên những tấm cửa sổ cao tới tận trần. Những hàng kệ, giá bằng gỗ hồ đào xếp đầy những cuốn sách bọc bìa da. Và rồi có cả những tấm lông và da thú cùng các chiến tích khác nằm rải rác khắp phòng.
Một quý ông tóc xám, dáng hơi khom trong bộ quần áo may bằng vải tuýt hiệu Harris đang ngồi trên một cái ghế lớn bọc da kê phía trước lò sưởi đang bùng cháy dữ dội.
- Lại đây. – Ông ta ra lệnh.
Bên cạnh ông ta chính là anh chàng thanh niên người Ý đẹp trai Schuyler đã đuổi theo lúc ở Triển lãm Biennale. Anh ta gật đầu với Schuyler và di chuyển đến chỗ cái ghế đặt trước mặt họ.
- Anh đã ếm bùa tôi. – Schuyler cất tiếng buộc tội.
- Đó là cách duy nhất giúp chúng tôi xác định danh tính cũng như mục đích thật sự của cô. Đừng lo, chúng tôi không làm hại cô đâu. – Chàng trai trẻ giải thích.
- Rồi sao nữa? Các người hài lòng với kết quả thu được chứ?
- Có. – Chàng trai trịnh trọng nói. – Cô là Schuyler Van Alen. Cô đang trọ tại khách sạn Danieli cùng với Oliver Hazard-Perry Cha và con trai ông ta, Oliver. Cô đang trên đường tìm kiếm thứ gì đó. Và cho phép tôi gửi tới cô một vài tin tức tuyệt vời: Cuộc tìm kiếm của cô có thể chấm dứt được rồi đấy.
- Tại sao vậy? – Schuyler hỏi lại vẻ cảnh giác.
- Vì đây chính là Giáo sư. – Chàng trai nói.
- Tôi nghe nói cô đang tìm kiếm tôi. – Giáo sư vui vẻ nói – Tôi đã không còn nổi tiếng đối với các học sinh Mỹ thời nay nữa rồi. Trước đây đúng là có rất nhiều học trò đến nghe tôi giảng bài. Nhưng giờ thì hết rồi. Vậy nói tôi nghe xem, tại sao cô lại tìm tôi?
- Cordelia Van Alen cử tôi tới. – Schuyler nói.
Khi cái tên Cordelia Van Alen được thốt ra, Giáo sư và chàng thanh niên trao đổi với nhau một cái liếc mắt đầy ý nghĩa. Hơi nóng từ lò sưởi thoát ra làm hai má Schuyler nóng bừng; nhưng không phải chỉ có sức nóng của lửa mới khiến làn da tai tái của cô đỏ hồng lên như thế. Việc nói ra cái tên Cordelia một cách trân tráo như vậy khiến cô cảm thấy tủi hổ. Những người lạ mặt này là ai? Tại sao họ lại mang cô tới đây? Cô có đúng không khi viện tới cái tên của người bà quá cố như một cái phao cứu nạn?
- Nói tiếp đi. – Giáo sư khích lệ, rướn người về phía trước, chăm chú quan sát Schuyler.
- Cordelia đã từng là bà ngoại tôi… - Schuyler tiếp tục. Kể cả những người này có là kẻ thù đi chăng nữa, thì bây giờ cô cũng không còn đường rút lui nữa rồi. Cô quan sát căn phòng, ngõ hầu tìm lối thoát thân và nhanh chóng nhận ra cánh cửa bí mật phía sau một trong những giá sách kia. Có lẽ cô có thể trốn thoát qua lối đó, hoặc cô có thể đánh bất tỉnh ông già và chàng trai trẻ này bằng câu thần chú của riêng mình, rồi bay ra ngoài cửa sổ.
- Đã từng? – Chàng thanh niên hỏi lại.
- Bà ấy đã thoát ra khỏi chu kỳ này rồi. Bà bị tấn công... – Schuyler thở mạnh. - …bởi một Máu Bạc. Một Croatan.
- Làm sao cô biết được? – chàng trai gặng hỏi. – Không một ai còn nhắc tới “Máu Bạc” kể từ thế kỷ mười bảy. Cụm từ này đã bị đào thải khỏi lịch sử của gia tộc Máu Xanh.
- Chính bà tôi đã nói lại với tôi.
- Nhưng không phải bà ấy bị “hút” mất rồi sao? – chàng trai hỏi bằng một giọng khàn đặc.
- Không, tạ ơn Trời. Kẻ tấn công đã không hút được toàn bộ máu và ký ức của bà. Bà sẽ sống chờ ngày trở lại trong chu kỳ tiếp theo.
Chàng trai dựa người ra sau thành ghế. Schuyler ngó thấy tay trái anh ta đang xoay xoay chùm chìa khóa ôtô còn chân phải thì đung đưa theo nhịp lên xuống. Anh ta có vẻ không còn đủ kiên nhẫn để nghe hết phần còn lại của câu chuyện.
- Tiếp đi nào. – Giáo sư lại hối thúc.
- Cordelia đã nói với tôi rằng chìa khóa để đánh bại Máu Bạc nằm trong tay chồng bà, ông Lawrence Van Alen, người hiện đang mai danh ẩn tích. Bà nghĩ nếu bà gửi tôi tới… nếu bà gửi tôi tới Venice này, tôi có thể tìm ra ông. Và tôi đã tìm được, đúng không?
Ánh mắt người đàn ông hấp háy.
- Có lẽ là vậy.
- Vậy thì, ông ngoại, cháu tới để nhờ ông giúp. Bà Cordelia đã nói chuyện này cần phải khẩn trương lên…
Có một tiếng húng hắng từ phía chàng thanh niên. Schuyler quay lại nhìn anh ta.
- Ta mới là Lawrence Van Alen. – Chàng thanh niên nói, rướn người tới trước. Khuôn mặt của anh ta bắt đầu thay đổi, không hẳn là biến dạng mà chỉ là thay đổi theo đặc điểm thời gian, khiến anh ta biến thành một người đàn ông già hơn. Trước mặt Schuyler lúc này không phải là người ông tóc bạc, lưng còng như cô hằng tưởng tượng. Người đàn ông trước mặt cô đây có dáng cao và gầy. Ông vẫn giữ mái tóc bồng bềnh như bờm sư tử giống của chàng thanh niên ban nãy, chỉ có điều, nó đã lốm đốm những sợi bạc. Ngay cả chiếc mũi diều hâu đậm nét quý tộc cùng chiếc cằm cao ngạo kia vẫn còn nguyên trên khuôn mặt ông không thay đổi.
Cứ như thể căn phòng co lại trước sự hiện diện của ông. Ông có dáng dấp của một vị chỉ huy, với cái nhìn sắc lạnh, khiến người ta phải kính sợ. Đây chính là người đàn ông xứng tầm đối thủ của Charles Force, Schuyler nghĩ thầm.
- Ông có khả năng biến đổi nhân dạng?! – Schuyler nói đầy vẻ ngưỡng mộ. – Đây có phải hình dáng thật sự của ông không ạ?
- Cũng thật như mọi hình dạng khác của ta. – Lawrence đáp lại. – Anderson, ông có thể cảm phiền để hai chúng tôi một mình được không?!
Người đàn ông nhiều tuổi hơn kia nháy mắt với Schuyler và lui ra khỏi phòng, đóng cánh cửa gỗ cọt kẹt sau lưng một cách nhẹ nhàng. Schuyler ngồi yên vị lại trên ghế của mình, cúi mặt nhìn xuống tấm thảm trải sàn Aubusson đã bạc màu trên nền gạch cứng. Nó trông giống hệt tấm thảm trong thư viện của Cordelia ở tòa nhà số 101 phố Street.
- Ông ấy là Conduit của ông ạ?
Lawrence gật đầu. Ông đứng dậy và đi lại phía bệ lò sưởi, mở chiếc tủ ly và lôi ra một chai rượu poóc-tô. Ông rót thứ chất lỏng màu đỏ ấy vào hai ly và đưa cho Schuyler một ly.
- Cháu đã ngờ ngợ liệu đó có phải là ông. – Cô nói khi đưa tay nhận lấy ly rượu. Cô nhấp từng ngụm chậm rãi. Rượu thật ngọt nhưng không phải vị ngọt do pha thêm chất phụ gia vào, mà là vị ngọt đậm đặc, nguyên chất và rất ngon. Rượu vốn không có tác dụng gì đối với ma cà rồng, nhưng hầu hết bọn họ đều thích hương vị của nó.
- Ta cũng đoán thế. Cháu gần như đã quay sang phía ta khi gọi tên ta, nhưng rồi lại thôi. Làm sao cháu nghĩ đó chính là ta?
- Chủ nhân thường ngồi bên tay trái, chính là vị trí của ông ban nãy, trong khi ông già kia ngồi bên tay phải của ông. – Schuyler trả lời. Đó là một trong những quy tắc ứng xử có từ thời Trung cổ mà cô học được sau những buổi học dài bất tận với Cordelia về lịch sử gia tộc Máu Xanh. Nhà vua luôn ngồi bên trái, còn hoàng hậu của ngài, hoặc bất cứ người nào khác dưới quyền đều ngồi bên phải nhà vua.
- Ồ, rất có óc quan sát. Ta đã quên mất chuyện đó. Ta đúng là già thật rồi.
- Cháu rất tiếc vì bà Cordelia không thể có mặt ở đây. – Schuyler nhẹ nhàng lên tiếng.
Lawrence thở dài.
- Không sao. Chúng ta cũng đã xa nhau tới hơn một thế kỷ rồi. Mỗi người cũng đã dần quen với cuộc sống cô đơn. Rồi sẽ có một ngày nào đó chúng ta lại được ở bên nhau, an toàn.
Ông ngồi dựa vào ghế của mình và lôi ra từ trong túi áo một điếu xì-gà.
- Vậy là, cháu là con gái của Allegra?! – Ông nói, cắt một đầu của điếu xì-gà bằng máy cắt chuyên dụng bằng bạc. – Ta đã theo dõi cháu. Ta biết cháu đi tìm ta ngay từ giây phút cháu đặt chân tới Venice. Ta đã cảm nhận được điều gì đó trong không khí. Ta vốn cứ nghĩ là mẹ cháu nhưng sớm nhận ra đó là một nguồn năng lượng khác. Và rồi ta bị cháu bắt gặp.
- Vậy ra ông chính là người phụ nữ mà cháu nhìn thấy trên phố hồi trưa nay?! Ông đã biến thành mẹ Allegra. – Schuyler như hét lên vì kinh ngạc. Giờ thì tất cả mọi chuyện đã trở nên rõ ràng.
Lawrence gật đầu xác nhận.
- Thỉnh thoảng ta lại làm vậy. Có lẽ vì ta nhớ mẹ cháu quá.
Ông nhả ra một làn khói xì-gà.
- Ta cần phải cảnh giác, không dám lộ diện ngay với cháu cho tới khi ta tìm hiểu chắc chắn về thân thế của cháu. Ta có rất nhiều kẻ thù, Schuyler ạ. Chúng đã và vẫn đang săn đuổi ta từ hàng thế kỷ nay rồi. Và cháu rất có thể là một trong số chúng.
Schuyler đột nhiên ngồi thẳng dậy, suýt chút nữa phụt rượu ra khỏi miệng.
- Bà chủ nhà trọ đó cũng là ông phải không? Ít ra thì là cái người cháu gặp lúc đầu.
Lawrence cười lặng lẽ.
- Đúng vậy. Đó chính là ta.
- Cũng chính vì thế mà bà chủ thật sự nói rằng bà ấy chưa bao giờ gặp bọn cháu khi tụi cháu trở xuống dưới lầu. Bà ấy đã nói sự thật. – Schuyler đặt chiếc ly rỗng lên chiếc bàn nhỏ bên cạnh ghế cô ngồi, cẩn thận đặt nó vào miếng lót cốc bằng vàng.
- Marie là một người thật thà. Ta đánh giá cao bà ấy vì điều đó. – Lawrence mỉm cười.
- Tại sao ông lại tự chỉ phòng mình cho tụi cháu?
- Ta vốn cũng không có ý định ấy đâu, nhưng lúc đó bị cháu đuổi theo, ta buộc phải trú tạm vào một trong số những nơi ẩn náu bí mật của ta trên khắp thành phố này. Cháu biết đấy, ta có rất nhiều địa chỉ bí mật. Người ta cần nhiều chỗ trú như vậy thì mới thực sự được gọi là thành công trong việc sống mai danh ẩn tích, đúng không?! Còn về phía Marie, bà ấy đã nói với cháu sự thật: căn phòng đó thực sự bị khóa. Nhưng cháu đã mở được nó. Ta coi đó như một dấu hiệu tốt. Ta nghĩ ta có thể cho cháu một đầu mối để xem xem cháu có khả năng tìm ra ta giữa Biennale muôn người được không. Và cháu đã làm rất tốt. Cháu cũng giống ta, đều bị tác phẩm Olafur Eliasson thu hút.
- Nhưng tại sao ngay sau đó ông lại chạy khỏi cháu? Bắt cháu phải đuổi theo ông?
- Và cháu gần như đã tóm được ta còn gì. Ôi lạy Chúa tôi, tốc độ của cháu… Cháu mạnh không thể tin được. Ta đã phải dùng hết năng lượng của mình để giữ khoảng cách dẫn đầu với cháu. Lúc đó, ta vẫn chưa chắc chắn về động cơ cũng như danh tính của cháu. Cháu khiến ta ngạc nhiên khi tìm đến tòa nhà Thuộc địa. Ta xin lỗi vì đã phải ếm bùa chú lên cháu.
- Vậy tại sao lúc này ông lại chọn tin cháu? – Schuyler thắc mắc.
- Bởi vì chỉ có con gái của Allegra mới biết câu thần chú Advoco Adiuvo mà cháu đã dùng. Cordelia và ta đã thỏa thuận với nhau rằng nếu lúc nào đó một người trong hai chúng ta tìm đến người kia thì mật khẩu nhận diện sẽ là những lời thuộc về Ngôn ngữ Thần Thánh đó. Không có thần chú Advoco, thì dù trong một ngàn năm nữa, cháu cũng sẽ không bao giờ tìm được ta, kể cả cháu có mạnh đến đâu chăng nữa. Nhưng ta buộc phải khiến cho cháu mê man bất tỉnh nhằm kéo dài thêm thời gian đủ để ta biết chắc cháu không bị người khác điều khiển. Rồi ta đưa cháu tới nơi an toàn, nơi mà chúng ta không bị theo dõi.
Schuyler gật đầu. Cô cũng đã đoán được phần nào tiến trình sự việc.
- Vậy giờ cháu đã tìm được ta rồi, cháu muốn gì nào? – Lawrence hỏi, nhìn Schuyler qua làn khói thuốc.
- Cháu muốn biết về Máu Bạc. Về tất cả những gì liên quan đến chúng.
Subscribe to:
Posts (Atom)